|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HOÀ TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/4/2025. V/v: “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hoa
Bà Nguyễn Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 733/2024/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2024 về tranh chấp: “Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/3/2025 giữa:
* Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu Đ, sinh năm: 1980
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Phạm C, sinh năm: 1973
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn bà Võ Thị Thu Đ trình bày: Bà và ông Phạm C đăng ký kết hôn năm 2003 tại UBND phường N. Thời gian đầu chung sống ông bà có hạnh phúc tuy nhiên thời gian gần đây ông bà thường xảy ra mâu thuẫn do ông C thường xuyên nhậu nhẹt, bỏ bê gia đình, vợ con. Vì thương con bà Đ đã cố gắng nhẫn nhịn, chịu đựng nhưng mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà Đ đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông C.
Về con chung: Ông bà có hai con chung là các cháu Phạm Thị Thu P, sinh ngày 09/12/2003 và Phạm Võ Minh Q, sinh ngày 24/8/2007. Cháu P đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết. Sau khi ly hôn bà có nguyện vọng giao cháu Q cho ông C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà không cấp dưỡng nuôi con do ông C không yêu cầu.
2
Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngày 24/02/2025 bà Võ Thị Thu Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Theo lời trình bày của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án: Ông và bà Võ Thị Thu Đ đăng ký kết hôn năm 2003 tại UBND phường N. Quá trình chung sống, do tính tình không hợp nên giữa ông và bà Đ nảy sinh nhiều mâu thuẫn, bất hoà. Ông bà đã cố gắng hoà giải nhiều lần nhưng không được. Nay bà Đ yêu cầu ly hôn, ông đồng ý.
Về con chung: Ông bà có hai con chung là các cháu Phạm Thị Thu P, sinh ngày 09/12/2003 và Phạm Võ Minh Q, sinh ngày 24/8/2007. Cháu P đã trưởng thành nên không yêu cầu xem xét, giải quyết. Nếu Toà án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đ, ông có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q và không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Vì lý do bận công việc, ông C yêu cầu xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát không có yêu cầu, kiến nghị gì.
Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu Đ cho bà Đ được ly hôn với ông C.
+ Về con chung: Cháu Phạm Thị Thu P, sinh ngày 09/12/2003 đã trưởng thành. Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Võ Minh Q, sinh ngày 24/8/2007 cho ông C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Đ không cấp dưỡng nuôi con do ông C không yêu cầu.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ, ông C không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Bà Đ phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về quan hệ hôn nhân gia đình về ly hôn, con chung vì vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm.
- Bị đơn hiện đang cư trú tại tổ dân phố T, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Ninh
3
Hòa theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn bà Võ Thị Thu Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Phạm C có yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thu Đ và ông Phạm C tự nguyện kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 127, ngày 12/02/2003 nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của các đương sự đều thể hiện trong quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mặc dù ông bà đã tìm nhiều cách để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét thấy các đương sự đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn và có nguyện vọng được giải quyết cho ly hôn, vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Hôn nhân giữa bà Võ Thị Thu Đ và ông Phạm C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được do các đương sự đã vi phạm nghiêm trọng về nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Vì vậy, việc Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.2. Về con chung: Bà Võ Thị Thu Đ và ông Phạm C có hai con chung là các cháu Phạm Thị Thu P, sinh ngày 09/12/2003 và Phạm Võ Minh Q, sinh ngày 24/8/2007. Cháu P đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xét. Sau khi ly hôn, bà Đ và ông C đều có nguyện vọng giao cháu Q cho ông C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và ông C không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy tại bản tự khai ngày 06/02/2025, cháu Q cũng thể hiện ý chí được ở với ông C sau khi bà Đ và ông C ly hôn. Vì thế việc Hội đồng xét xử giao cháu Q cho ông C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục sau khi ly hôn là có cơ sở.
Ông C không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đ và ông C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
[5] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thu Đ.
- Về hôn nhân: Bà Võ Thị Thu Đ được ly hôn ông Phạm C.
- Về con chung: Cháu Phạm Thị Thu P, sinh ngày 09/12/2003 đã trưởng thành. Giao cháu Phạm Võ Minh Q, sinh ngày 24/8/2007 cho ông Phạm C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Đ không cấp dưỡng nuôi con do ông C không yêu cầu.
Bà Võ Thị Thu Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con khi cần thiết cha, mẹ có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung hoặc khi có căn cứ theo điểm b khoản 2 và khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Thu Đ và ông Phạm C không yêu cầu nên không xem xét.
2. Về án phí:
Bà Võ Thị Thu Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006453 ngày 19/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Võ Thị Thu Đ đã nộp đủ án phí.
3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành:
theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh Huyền |
5
Bản án số 48/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HOÀ, TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 48/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HOÀ, TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Đ yêu cầu ly hôn
