|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày: 09/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quang Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Tuyết
Bà Trần Nguyệt Mai
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2025/HSST ngày 10/3/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Danh Thị Thanh T (tên gọi khác: Quan Thị Thu D), sinh ngày 26 tháng 6 năm 1966 tại: Long An; Giới tính: Nữ; Thường trú: 158 ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Long An; Chỗ ở: Ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Nội trợ; Học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Danh Bậu và bà: Nguyễn Thị Ẩ; Chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm” (khi bị bắt, bị cáo khai tên Quan Thị Thu D). Ngày 08/9/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/02/2024 (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Bà Huỳnh Thị V, sinh năm 1957 (vắng mặt)
Địa chỉ: Không rõ nơi cư trú.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 13/9/1993, Danh Thị Thanh T và H (không rõ lai lịch) là bạn bè quan biết với T từ trước cùng nhau đi đến khách sạn P1, địa chỉ 6 đường H, Phường A, Quận E để bàn bạc với nhau về việc cướp tài sản của người khác bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. H và T lên thuê phòng 407 lầu 4 của khách sạn P1, tại đây, H đã chuẩn bị sẵn một ba lô (bên trong có 01 con dao thái lan cán màu vàng dài khoảng 25cm, 02 sợi dây dù). Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T về nhà tại B đường D, Phường C, Quận H nói dối với chị Huỳnh Thị V (SN: 1957) là đến khách sạn P1 để gặp khách mua dâm (do V và T cùng là gái bán dâm) thì chị V đồng ý. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T và chị V lên phòng 407 của khách sạn P1 thì H đã ở trong phòng tắm tại phòng 407 của khách sạn. Khi chị V vừa vào nhà tắm để đi vệ sinh thì bị H dùng dao kề cổ của chị V, khống chế và dùng khăn tắm bịt miệng chị V. H tiếp tục cùng T sử dụng dây cột tay, cột chân chị V lại, sau đó H yêu cầu T ra ngoài phòng vệ sinh để đợi, khi trói xong thì H trực tiếp lấy vàng ở người của chị V gồm 01 lắc tay vàng, 03 chiếc nhẫn vàng, 01 dây chuyền vàng, 01 đôi bông tai vàng, 01 đồng hồ hiệu Seiko. Sau khi chiếm đoạt tài sản T và H rời khỏi khách sạn để trốn thoát. Sau khi chiếm đoạt tài sản của chị V, H đi bán (không rõ nơi bán tài sản và bán được bao nhiêu tiền) tài sản. H chia cho T 200.000 đồng. Sau đó, H bỏ đi đâu không rõ. Riêng T bỏ trốn khỏi địa phương. Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, anh Huỳnh Kiệt P là nhân viên khách sạn đi quanh các phòng của khách sạn để kiểm tra, khi đến trước phòng 407 thì nghe tiếng kêu cứu, lúc này anh P mới lấy chìa khóa mở cửa khóa phòng vào bên trong thì thấy chị V đang bị trói hai tay và hai chân, miệng bị bịt bằng giấy vệ sinh nên trình báo công an P2 Quận E. Vụ việc sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Danh Thị Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp tài sản của chị Huỳnh Thị V như đã nêu trên.
Đối với tên H cùng Danh Thị Thanh T chiếm đoạt tài sản của chị Huỳnh Thị V hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xử lý sau.
Vật chứng: + 01 lắc sáu chỉ vàng 24K, 03 chiếc nhẫn 4 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền vàng 18K, 01 đôi bông tai vàng 18K, 01 đồng hồ hiệu Seiko. Tất cả hiện không thu hồi được.
- + 01 túi du lịch màu vàng;
- + 01 dao thái lan dài 02 tấc, cán dao màu vàng;
- + 01 quần tây nam màu đen;
- + 01 dây nilon loại dây dù dài khoảng 1 thước; một số dây vải.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là Huỳnh Thị V đi đâu không rõ nên chưa có ý kiến yêu cầu bồi thường.
Bản cáo trạng số: 40/CT-VKS-Q5 ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Danh Thị Thanh T về tội: “Cướp tài sản” theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Danh Thị Thanh T cùng đối tương tên H (chưa rõ lai lịch) dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc đối với Huỳnh Thị V. Cụ thể H dùng dao kề cổ của chị V, khống chế và dùng khăn tắm bịt miệng chị V. H tiếp tục cùng T sử dụng dây cột tay, cột chân chị V lại, sau đó H yêu cầu T ra ngoài phòng vệ sinh để đợi, khi trói xong thì H trực tiếp lấy vàng ở người của chị V gồm 01 lắc tay vàng, 03 chiếc nhẫn vàng, 01 dây chuyền vàng, 01 đôi bông tai vàng, 01 đồng hồ hiệu Seiko. Sau khi chiếm đoạt tài sản T và H rời khỏi khách sạn để trốn thoát. Sau khi chiếm đoạt tài sản của chị V, H đi bán (không rõ nơi bán tài sản và bán được bao nhiêu tiền) tài sản. H chia cho T 200.000 đồng. Sau đó, H bỏ đi đâu không rõ. Riêng T bỏ trốn khỏi địa phương. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Danh Thị Thanh T về tội “Cướp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Danh Thị Thanh T với mức án từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Danh Thị Thanh T không có ý kiến tranh luận, bào chữa và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Danh Thị Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Danh Thị Thanh T cùng đối tượng tên H (không rõ lai lịch) dùng dao đe dọa ngay tức khắc và dùng dây trói tay chân đối với bị hại chị Huỳnh Thị V làm chị bị hại tê liệt ý chí, không còn khả năng kháng cự để chiếm đoạt 01 lắc sáu chỉ vàng 24K, 03 chiếc nhẫn 4 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền vàng 18k, 01 đôi bông tai vàng 18K, 01 đồng hồ Senko của chị V sau đó bị phát hiện và T bị bắt theo Quyết định truy nã.
Hiện nay, tài sản mà bị cáo cướp không thu hồi được nên không thể định giá được và vật chứng trong vụ án hiện đã thất lạc, do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 151 Bộ luật hình sự năm 1985.
Do hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện vào ngày 13/9/1993 có đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản của công dân” theo khoản 1 Điều 152 Bộ luật Hình sự năm 1985, có mức hình phạt từ ba năm đến mười hai năm cao hơn hình phạt theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nên khi xét xử sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, nhưng vì tham lam muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nhằm mục đích giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định đủ tác dụng giáo dục, để bị cáo có thể cải tạo thành người có ích cho xã hội, đồng thời đủ sức răn đe đối với những người khác có hành vi tương tự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không xem xét áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[8] Đối với đối tượng tên H đã cùng Danh Thị Thanh T chiếm đoạt tài sản của chị Huỳnh Thị V. Hiện chưa rõ lai lịch, khi nào bắt được xử lý sau
[9] Về xử lý vật chứng: 01 lắc sáu chỉ vàng 24K, 03 chiếc nhẫn 4 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền vàng 18K, 01 đôi bông tai vàng 18K, 01 đồng hồ hiệu Seiko là tang vật vụ án, tất cả hiện không thu hồi được nên Tòa không xét.
01 túi du lịch màu vàng; 01 dao thái lan dài 02 tấc, cán dao màu vàng; 01 quần tây nam màu đen; 01 dây nilon loại dây dù dài khoảng 1 thước; một số dây vải. Hiện do vụ án xảy ra đã lâu, số vật chứng trên hiện đã thất lạc nên tòa không xét.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Huỳnh Thị V đã không còn cư trú tại địa phương nên chưa ghi được ý kiến yêu cầu bồi thường. Do vậy, cần dành cho chị V quyền khởi kiện vụ án Dân sự khi chị V có yêu cầu.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 168; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.
Xử phạt bị cáo Danh Thị Thanh T 05 (năm) năm tù về tội “Cướp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2024
Bị hại là bà Huỳnh Thị V được quyền khởi kiện vụ án Dân sự khi có yêu cầu.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 (được sửa, đổi bổ sung năm 2017) và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.
Bị cáo chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quang Dũng |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự về tội cướp tài sản
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số: 48/2025/HS-ST ngày 09/4/2025 đối với Danh Thị Thanh T về tội Cướp tài sản theo Khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự hiện hành
