TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày 01 tháng 4 năm 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thành Thật và bà Phan Thị Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Ngọc Dung - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trần Thanh Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Quan T (tên gọi khác: Đ), sinh năm: 1994, tại thành phố L, tỉnh An Giang;
Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo Hòa hảo; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị L (chết); chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1995; có 01 con, sinh năm: 2015.
Tiền án: Ngày 24/8/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 04 tháng 02 năm 2024 chấp hành xong hình phạt tù;
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2024 cho đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L (có mặt).
- Bị hại: Công an tỉnh A; Trụ sở: số A T, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền bị hại: Ông Phạm Văn T2, sinh năm: 1987; Địa chỉ: số A khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền số 01/GUQ-PH10 ngày 01/01/2025).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quan T có tiền án về tội trộm cắp tài sản. Khoảng 14 giờ ngày 17 tháng 12 năm 2024, T đi bộ trên vỉa hè đường T, khi đến trụ sở Công an tỉnh A thuộc khóm B, phường M, thành phố L, T thấy trên tường hàng rào trụ sở Công an tỉnh A có 02 sợi dây điện nhãn hiệu Cadivi, màu vàng, loại dây điện đơn - ruột đồng bọc P, quy cách 2.0mm² (01 sợi dài 2,85m và 01 sợi dài 2,90m), một đầu của 02 sợi dây điện rơi bên ngoài vỉa hè. T nảy sinh ý định lấy trộm 02 sợi dây điện bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, T nhặt 01 viên gạch đập vào 02 đầu sợi dây điện phía trên đầu cột sát tường làm đứt 02 sợi dây điện. Sau đó, T cuộn 02 sợi dây điện để vào bọc nilon mang theo trong người đề đi tìm nơi bán, thì anh Nguyễn Minh K (chiến sỹ nghĩa vụ mục tiêu Công an tỉnh A) đang trực tại cổng gác trụ sở Công an tỉnh A thấy T cầm dây điện nên trình báo Công an phường M đưa T về trụ sở Công an phường thì T đầu thú hành vi phạm tội.
Vật chứng thu giữ, gồm: 01 sợi dây điện, nhãn hiệu Cadivi, màu vàng, loại dây điện đơn - ruột đồng bọc P, quy cách 2.0mm, dài 2,85m; 01 sợi dây điện, nhãn hiệu Cadivi, màu đỏ trắng, loại dây điện đơn - ruột đồng bọc P, quy cách 2.0mm, dài 2,90m; 01 viên gạch bị vỡ, bằng xi măng.
Kết luận về việc xác định giá trị tài sản số 2625/KL-HĐĐGTS ngày 23/12/2024 của của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn thành phố L: 01 sợi dây điện, nhãn hiệu Cadivi, màu vàng, loại dây điện đơn - ruột đồng bọc P, quy cách 2.0mm, dài 2,85m, đã qua sử dụng, trị giá 12.825 đồng; 01 sợi dây điện, nhãn hiệu Cadivi, màu đỏ trắng, loại dây điện đơn - ruột đồng bọc P, quy cách 2.0mm², dài 2,90m, đã qua sử dụng, trị giá 13.050 đồng. Tổng giá trị tài sản trị giá 25.875 đồng.
Trần Văn B, Trần Văn V, S, Trương Thanh H1 Tại Cáo trạng số 70/CT-VKSLX ngày 13/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Quan T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quan T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét, giải quyết.
3
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 viên gạch bị vỡ, bằng xi măng, là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại là anh Phạm Văn T2, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa trình bày trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu, đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại và đề nghị xử phạt bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Nguyễn Quan T có tiền án về tội trộm cắp tài sản, ngày 17/12/2024, T lợi dụng sự thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản của bị hại thực hiện hành vi lấy trộm 02 sợi dây diện, trị giá 25.875 đồng tại trụ sở Công an tỉnh A.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo là người trưởng thành, khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo từng bị xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong nhưng chưa được
4
xóa án tích; lẽ ra, sau khi chấp hành xong bị cáo phải tu dưỡng rèn luyện phẩm chất đạo đức, siêng năng lao động, tự tìm cho mình một việc làm chân chính để nuôi sống bản thân, phụ giúp gia đình và trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội. Trái lại, chỉ vì bản tính lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động, bị cáo đã cố ý tiếp tục thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 25.875 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch bị vỡ, bằng xi măng, là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quan T (Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
5
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Xử phạt bị cáo Nguyễn Quan T (Đỏ) 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 18/12/2024).
[2] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 viên gạch bị vỡ, bằng xi măng (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang).
[3] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quan T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 01/4/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Dung |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn QUan Tuấn
