|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2025/HS-ST Ngày 01-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Giàng A Vư;
- 2. Ông Tẩn Cao Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lò Xuân Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS, ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2025/QĐXXST-HS, ngày 17 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Thị S, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 09/8/1975, tại huyện P, tỉnh Lai Châu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Vàng A S1, đã chết; mẹ đẻ: Vàng Thị M, đã chết; sống chung như vợ chồng với Giàng A P, sinh năm 1974; bị cáo có 07 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
Người phiên dịch: Anh Vàng A C, sinh năm 1991, địa chỉ: Bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 18 giờ, ngày 19/12/2024, tại khu vực bán S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, Vàng Thị S mua được 01 gói Heroine của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể, hết số tiền 100.000 đồng, mục đích S mua Heroine để sử dụng. Mua được H1, S cất giấu vào trong chiếc túi vải màu đen đeo trên người rồi đi về nhà. Trưa ngày 20/12/2024, S mang gói Heroine để trong túi vải đi lên nương của gia đình. Hồi 10 giờ 40 phút, ngày 20/12/2024, khi S đang đi bộ trên đường thuộc bản Sểnh Sảng A, xã D thì bị Công an xã D phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ của Vàng Thị S là: 01 gói chất bột màu trắng, được gói bằng mảnh nilon màu trắng. Vàng Thị S khai nhận chất bột màu trắng là Heroine do S mua về để sử dụng cho bản thân.
Bản Kết luận giám định số: 22/KL-GĐVV, ngày 20/12/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Vàng Thị S có tổng khối lượng là 0,249 gam. Bản Kết luận giám định số: 51/KL-KTHS, ngày 22/12/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Tại bản Cáo trạng số: 14/CT-VKSPT, ngày 03 tháng 3 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Vàng Thị S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Vàng Thị S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Thị S từ 01 (Một) năm, 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm, 07 (B) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 0,196 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 chiếc túi vải màu đen, 01 mảnh nilon màu trắng và vỏ niêm phong. Đối với 0,053 gam Heroine trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo đã được gửi đi giám định không hoàn lại nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo. Tranh luận với quan điểm đề nghị của người bào chữa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội đã nêu.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho bị cáo đồng quan điểm với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt đối với bị cáo, phần xử lý vật chứng và về án phí. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện về nhân thân, hoàn cảnh sống, nguyên nhân phạm tội của bị cáo; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo hình phạt ở mức thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tô tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà bị cáo Vàng Thị S đã thực hiện:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong vật chứng, các kết luận giám định, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào hồi 10 giờ 40 phút, ngày 20/12/2024, tại đoạn đường thuộc bản S, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, Vàng Thị S bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 01 gói chất ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,249 gam. Vàng Thị S khai nhận, số H do S cất giấu để sử dụng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được rõ H1 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Tình tiết liên quan đến vụ án: Bị cáo khai số Heroine bị thu giữ là mua của một người đàn ông không rõ lai lịch cụ thể. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với người này.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 01 (Một) năm 04 (Bốn) tháng đến 01 (Một) năm 07 (Bảy) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tuy nhiên, đề nghị xử phạt bị cáo để quyết định hình phạt ở mức thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên là không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo làm ruộng, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng, gồm: 0,196 gam Heroine còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và 01 mảnh nilon màu trắng, 01 chiếc túi vải màu đen, vỏ niêm phong, là vật dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 0,053 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi đi giám định không hoàn lại, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, các Điều: 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
1. Bị cáo Vàng Thị S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Vàng Thị S: 01 (Một) năm, 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 0,196 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 chiếc túi vải màu đen; 01 mảnh nilon màu trắng và vỏ niêm phong (Vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu).
3. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 48/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo TTTP CMT
