Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Hải

Ông Nguyễn Nam Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đinh Quốc Ân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 279/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2025/HSST-QĐ ngày 13 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Vũ Văn C, sinh ngày 17 tháng 8 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K và bà Phạm Thị C1; có vợ là Hoàng Thị Q và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 27/4/2024 đến ngày 06/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Phạm Khắc T, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1996 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Khắc L và bà Cao Thị L1; có vợ là Vũ Thị D và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 27/4/2024 đến ngày 06/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Bùi Văn N, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn B và bà Nguyễn Thị T1; có vợ là Lương Thị H và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 27/4/2024 đến ngày 06/5/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Anh Nguyễn Bá B1, sinh năm 1976; nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
  • Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • Anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn X, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • Anh Phạm Văn D1, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Trọng T4, sinh năm 1986; nơi cư trú: thôn B, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • Anh Phạm Văn T5; có mặt.
  • Anh Phạm Hồng Q1; có mặt.
  • Anh Lương Văn T6; vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Văn T7; vắng mặt.
  • Anh Nguyễn Thế H1; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 27/4/2024, tổ công tác Phòng C5 Công an thành phố H kiểm tra phát hiện một nhóm người đang đánh bạc dưới hình thức “đá gà” thắng thua bằng tiền tại nhà của Vũ Văn C ở thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Cơ quan công an đã đưa 25 người có mặt tại thời điểm kiểm tra về trụ sở để làm rõ sự việc gồm: Vũ Văn C (chủ nhà), Phạm Khắc T, Bùi Văn N, Phạm Văn T2 sinh năm 1965 trú tại thôn N, xã H, huyện V; Nguyễn Bá B1 sinh năm 1976, Lương Văn T6 sinh năm 1995 cùng trú tại thôn T, xã B, huyện T; Hoàng Văn T3, sinh năm 1984, Phạm Hồng Q1 sinh năm 1988, Phạm Đức H2 sinh năm 1983 cùng trú tại thôn X, xã T, huyện T; Phạm Văn D1 sinh năm 1995, Nguyễn Văn T7 sinh năm 1991, Phạm Xuân C2 sinh năm 1985 cùng trú tại thôn H, xã T, huyện T; Nguyễn Trọng T4 sinh năm 1986, Nguyễn Ngọc S sinh năm 2003 trú tại thôn B, xã N, huyện T; Phạm Văn Bình sinh năm 1991 cùng trú tại thôn B, xã N, huyện T; Phạm Văn T5, sinh năm 1977, Nguyễn Bá C3 sinh năm 1974 cùng trú tại thôn X, xã B, huyện T; Nguyễn Thế Hiếu sinh năm 2001 trú tại thôn X, xã B, huyện T; Bùi Công S1 sinh năm 1991, Nguyễn Văn L2 sinh năm 1980 cùng trú tại thôn L, xã N, huyện T; Lương Văn M sinh năm 1964 trú tại thôn T, xã H, huyện T; Vũ Đức B2 sinh năm 1996 trú tại thôn T, xã Đ, huyện T; Bùi Văn T8 sinh năm 1991 trú tại thôn Đ, xã Đ, huyện T; Trần Văn D2 sinh năm 1979 trú tại thôn G, xã H, huyện T và Đỗ Đình Đ sinh năm 1987 trú tại thôn G, xã L, huyện V. Ngoài ra trong quá trình kiểm tra xác định Bùi Văn S2 sinh năm 1991 trú tại thôn B, xã N, huyện T cùng một số đối tượng khác chưa xác định được lai lịch đã bỏ chạy thoát. Tổ công tác thu giữ: 02 con gà chọi; 02 làn nhựa; 10 ghế nhựa; 01 chậu nhựa. Thu giữ trong người các đối tượng số tiền 42.040.000 đồng, trong đó: Nam có 1.890.000 đồng; Khắc T có 2.950.000 đồng; D1 có 7.600.000 đồng; B1 có 590.000 đồng; T2 có 4.700.000 đồng; Q1 có 30.000 đồng; T4 có 5.900.000 đồng; Văn T3 có 3.000.000 đồng; Đình Đồng có 3.980.000 đồng; Công Sơn có 1.000.000 đồng và 01 ví da; H2 có 5.500.000 đồng; C3 có 4.900.000 đồng và thu giữ 08 điện thoại di động các loại đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra xác định được: Do có trại chăn nuôi gà và sở thích nuôi gà chọi nên Vũ Văn C đã chuẩn bị 01 cót bằng mút xốp để cho bạn bè đến đấu gà chọi giao lưu. Chiều ngày 26/4/2024 Bùi Văn S2 gọi điện thoại cho Vũ Văn C trao đổi về việc Sắc có gà chọi nặng 2,9kg nhờ C tìm người có gà chọi cân nặng tương xứng để ghép đấu chọi trong đó có cá cược được thua bằng tiền, đồng thời Sắc mượn nhà C làm địa điểm tổ chức trận đấu, C đồng ý. Vũ Văn C biết Phạm Khắc T là người có gà chọi thể trạng phù hợp để đấu với gà của S2 nên đã liên hệ hẹn T sáng ngày 27/4/2024 mang gà đến nhà mình để đấu chọi với gà của S2. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 27/4/2024 S2 và Khắc T mang gà chọi đến nhà của C tại thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau đó có nhiều người khác vì nhiều lý do khác nhau biết được nhà C đang có xới bạc nên đến và cùng tham gia chơi. Thể thức chơi được quy định như sau: Gà của Sắc được bịt cựa bằng băng dính màu đỏ còn gà của Khắc T được bịt cựa bằng băng dính màu xanh. Hai con gà chọi sẽ được chủ gà thả vào trong cót làm bằng mút xốp, đấu với nhau trong 09 hồ, mỗi hồ kéo dài 15 phút, thời gian nghỉ giữa mỗi hồ là 05 phút. Trong trận đấu nếu gà nào bỏ chạy hoặc chủ gà xin thua thì sẽ được xác định là thua cuộc. Các cá nhân được tuỳ ý lựa chọn gà bịt cựa xanh hoặc gà bịt cựa đỏ và thoả thuận tỷ lệ đặt cược với nhau. Sắc và Khắc T thống nhất mỗi người sẽ trả cho C 500.000 đồng tiền mượn xới. Khi nào trận đấu phân định thắng, thua các bên mới thanh toán tiền cho nhau. Để đảm bảo khách quan, C nhận nhiệm vụ làm trọng tài, xác định giờ bắt đầu và kết thúc hồ đấu để hai chủ gà đưa gà vào cót. Khoảng 09 giờ Sắc và Khắc T đưa gà vào cót để đấu chọi và bắt đầu cho các cá nhân khác tham gia cá cược với nhau. Đến khoảng 10 giờ khi trận đấu gà đang diễn ra ở hồ thứ 3, chưa rõ thắng thua thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện. Cơ quan điều tra làm rõ 13 người tham gia cá cược trong trận đấu với tổng số tiền đặt cược là 23.200.000 đồng, cụ thể:

  • - Khắc Tùng thoả thuận cho Nguyễn Thế H1 chung số tiền 1.000.000 đồng sau đó nhận gà bịt cựa xanh 03 lần đặt cược, cụ thể: Lần thứ nhất cược số tiền 1.000.000 đồng với Bùi Văn S2 theo tỷ lệ thắng, thua là 1:1; Lần thứ hai cược 2.000.000 đồng với Bùi Văn N theo tỷ lệ nếu gà của T thắng thì sẽ được số tiền 1.400.000 đồng, nếu thua thì phải trả cho N 2.000.000 đồng; Lần thứ ba cược 1.400.000 đồng với Nguyễn Trọng T4 theo tỷ lệ nếu gà T thắng thì sẽ được số tiền 2.000.000 đồng, nếu thua thì T phải trả cho T4 1.400.000 đồng. Tổng số tiền Khắc T đã đặt cược trong trận đấu là 4.400.000 đồng. Trong đó Khắc T cược 4.400.000 đồng, H1 cược 1.000.000 đồng. Toan cược 2.000.000 đồng.
  • - Bùi Văn N ngoài lần cược 1.400.000 đồng với Khắc T, N còn nhận gà bịt cựa đỏ 02 lần đặt cược với những người khác, cụ thể: Lần thứ nhất cược 2.000.000 đồng với Phạm Văn D1; Lần thứ hai cược 2.000.000 đồng với Lương Văn T6. Cả hai lần này các bên đều thoả thuận tỷ lệ thắng, thua là 1:1. Nếu gà bịt cựa đỏ thua thì N sẽ phải trả cho người thắng toàn bộ số tiền đặt cược. Tổng số tiền N đã đặt cược trong ba lần là 5.400.000 đồng còn T6 cược 2.000.000 đồng.
  • - Phạm Văn D1 ngoài lần cược 2.000.000 đồng với N, D1 còn nhận gà bịt cựa màu đỏ cược 500.000 đồng với một người nam giới không quen biết (bỏ trốn trong quá trình bắt giữ). Tổng số tiền D1 đặt cược là 2.500.000 đồng.
  • - Phạm Văn T2 và Nguyễn Bá B1 02 lần cá cược với nhau. Trong đó cả hai lần T2 đều nhận gà bịt cựa màu đỏ, lần thứ nhất Tiếp cược 500.000 đồng, tỷ lệ thắng, thua là 1:1. Lần thứ hai khi gà bị cựa xanh có dấu hiệu xuống sức, Tiếp nhận gà bịt cựa đỏ cược 500.000 đồng với B1 theo tỷ lệ 1:0.8. Nếu gà bịt cựa đỏ thắng, T2 được B1 trả số tiền 400.000 đồng, nếu thua sẽ bị mất số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền T2 đặt cược trong 2 lần là 1.000.000 đồng, B1 đặt cược là 900.000 đồng.
  • - Hoàng Văn T3 và Nguyễn Văn T7 mỗi người góp 1.000.000 đồng được 2.000.000 đồng nhận gà bịt cựa đỏ cược với Phạm Văn T5. Tỷ lệ thắng, thua là 1:1. Tổng số tiền T3 cược là 1.000.000 đồng, T7 cược 1.000.000 đồng, T5 cược 2.000.000 đồng.
  • - Phạm Hồng Q1 ban đầu nhận gà bịt cựa xanh cược 2.000.000 đồng với T3 và T7 sau đó nhường lại kèo cá cược này cho T5.

Những người còn lại đứng xem, không tham gia cá cược (12 người) gồm: Bùi Công S1, Lương Văn M, Vũ Đức B2, Phạm Đức H2, Phạm Xuân C2, Nguyễn Văn L2, Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Bá C3, Bùi Văn T8, Phạm Văn B3, Trần Văn D2 và Đỗ Đình Đ.

Tại Cơ quan điều tra Vũ Văn C, Phạm Khắc T, Bùi Văn N, Nguyễn Thế H1, Nguyễn Trọng T4, Lương Văn T6, Phạm Văn D1, Phạm Văn T2, Nguyễn Bá B1, Hoàng Văn T3, Nguyễn Văn T7, Phạm Văn T5 và Phạm Hồng Q1 khai nhận hành vi như nội dung nêu trên. Về số tiền dùng để đánh bạc: T3 mang theo 2.950.000 đồng, N mang theo 1.890.000 cả hai sử dụng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. N bị thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung; D1 mang theo 7.600.000 đồng, sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, bị thu giữ 01 điện thoại Iphone; Bính mang theo 590.000 đồng sử dụng toàn bộ để đánh bạc; T2 mang theo 4.700.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc; Q1 mang theo 30.000 đồng là tiền chi tiêu cá nhân, không dùng để đánh bạc; T4 mang theo 5.900.000 đồng, sử dụng 2.000.000 đồng để đánh bạc; Văn T3 mang theo 3.000.000 đồng, sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc; Nguyễn Thế H1 không mang theo tiền, bị thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Về vật chứng vụ án:

  • - Chuyển Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng quản lý số tiền 11.930.000 đồng là tiền sử dụng để đánh bạc thu giữ trên người Phạm Khắc T, Bùi Văn N, Phạm Văn D1, Hoàng Văn T3, Nguyễn Trọng T4, Nguyễn Bá B1 và Phạm Văn T2; 02 làn nhựa, 10 ghế nhựa, 01 chậu nhựa và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng (thu của Bùi Văn N);
  • - Đối với số tiền 30.110.000 đồng còn lại, 01 ví da và 07 điện thoại di động thu giữ khi bắt quả tang xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
  • - Quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra đã tiêu hủy 02 con gà chọi theo quy định.

Bản Cáo trạng số 06/CT-VKS-P2 ngày 20/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Khắc T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị cáo Bùi Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 322; Điều 35, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền bị cáo Vũ Văn C từ 60 triệu đồng đến 70 triệu đồng, xử phạt tiền bị cáo Phạm Khắc T từ 50 triệu đồng đến 60 triệu đồng, về tội Tổ chức đánh bạc.
  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền bị cáo Bùi Văn N từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng, về tội Đánh bạc.
  • Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • Về vật chứng vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 02 làn nhựa, 10 ghế nhựa màu vàng, 01 chậu nhựa màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng (tình trạng máy không hiện màn hình) thu giữ của Bùi Văn N; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.930.000 đồng thu giữ của Phạm Khắc T, Bùi Văn N, Phạm Văn D1, Hoàng Văn T3, Nguyễn Trọng T4, Nguyễn Bá B1 và Phạm Văn T2.
  • Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố là đúng. Các bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, áp dụng xử phạt tiền đối với các bị cáo. Các bị cáo đã nộp tổng số tiền 140 triệu đồng (bị cáo C 70 triệu đồng, bị cáo T3 50 triệu đồng, bị cáo N 20 triệu đồng) tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng để đảm bảo khả năng thi hành án phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Chiều ngày 26/4/2024 sau khi được Bùi Văn S2 liên hệ, gợi ý việc tổ chức đánh bạc dưới hình thức “đá gà” được thua bằng tiền, Vũ Văn C đã rủ rê, lôi kéo Phạm Khắc T mang gà chọi đến nhà C tại thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng đấu chọi với gà của S2 và cho những người khác tham gia cá cược vào sáng ngày 27/4/2024. Khắc T và S2 phải trả cho C 1.000.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ khoảng 09 giờ đến 10 giờ ngày 27/4/2024, có 13 con bạc tham gia cá cược gồm Phạm Khắc T, Bùi Văn S2, Bùi Văn N, Nguyễn Thế H1, Nguyễn Trọng T4, Lương Văn T6, Phạm Văn D1, Phạm Văn T2, Phạm Bá B4, Hoàng Văn T3, Nguyễn Văn T7, Phạm Văn T5 và Phạm Hồng Q1. Tổng số tiền cá cược là 23.200.000 đồng. Trong đó Bùi Văn N cá cược 5.400.000 đồng. Do xới bạc bị phát hiện trước khi trận đấu gà kết thúc nên các con bạc chưa thanh toán tiền cho nhau, C chưa thu được số tiền 1.000.000 đồng từ Sắc và Khắc T. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức “đá gà” là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn C, Phạm Khắc T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo N phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  6. Về vai trò: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ, đều là người thực hành. Bị cáo C rủ Khắc T mang gà đến nhà C để đấu chọi với gà của S2 và cho những người khác tham gia cá cược nên có vai trò cao nhất. Bị cáo Khắc T mang gà đến nhà C và trực tiếp tham gia đánh bạc nên có vai trò cao thứ hai. Đối với bị cáo N sử dụng số tiền 5.400.000 đồng tham gia đánh bạc, hành vi là riêng lẻ.
  7. Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, nhân thân và số tiền các bị cáo đánh bạc, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với bị cáo C cần áp dụng mức hình phạt cao hơn bị cáo Khắc C4; bị cáo N áp dụng mức hình phạt thấp nhất. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, tự nguyện nộp tổng số tiền 140 triệu đồng (bị cáo C 70 triệu đồng, bị cáo T 50 triệu đồng, bị cáo N 20 triệu đồng) để chứng minh có điều kiện kinh tế, đảm bảo khả năng thi hành án phạt tiền thực hiện nghĩa vụ với nhà nước nên có thể xem xét áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo các bị cáo đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
  8. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền vì đã áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo.
  9. Về xử lý vật chứng: 02 làn nhựa, 10 ghế nhựa màu vàng, 01 chậu nhựa màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Văn N (tình trạng máy không hiện màn hình, bị cáo N đề nghị tiêu hủy) không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ; số tiền 11.930.000 đồng thu giữ của Phạm Khắc T, Bùi Văn N, Phạm Văn D1, Hoàng Văn T3, Nguyễn Trọng T4, Nguyễn Bá B1 và Phạm Văn T2 sử dụng để đánh bạc nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
  10. Đối với số tiền các bị cáo tự nguyện nộp trước khi xét xử (bị cáo C 70 triệu đồng, bị cáo T3 50 triệu đồng, bị cáo N 20 triệu đồng) cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  11. Đối với Bùi Văn S2 đồng phạm tội Tổ chức đánh bạc với Vũ Văn C và Phạm Khắc T, quá trình điều tra vụ án S2 bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã, khi nào bắt được xử lý sau.
  12. Đối với Phạm Văn T2, Nguyễn Bá B1, Hoàng Văn T3, Phạm Văn D1, Lương Văn T6, Nguyễn Trọng T4, Phạm Văn T5, Nguyễn Văn T7, Phạm Hồng Q1 và Nguyễn Thế H1 có hành vi đánh bạc tuy nhiên số tiền cá cược của mỗi người chưa đến 5.000.000 đồng, nhân thân không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc nên Cơ quan điều tra quyết định xử lý vi phạm hành chính.
  13. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  14. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 322; Điều 35, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
  • Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C, Phạm Khắc T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • Xử phạt tiền bị cáo Vũ Văn C 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt tiền bị cáo Phạm Khắc T 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự,
  • Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “Đánh bạc”.
  • Xử phạt tiền bị cáo Bùi Văn N 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng.
  • - Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo.
  • - Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Tịch thu, tiêu huỷ: 02 làn nhựa, 10 ghế nhựa màu vàng, 01 chậu nhựa màu xanh và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng (tình trạng máy không hiện màn hình) thu giữ của Bùi Văn N.
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.930.000 đồng thu giữ của Phạm Khắc T, Bùi Văn N, Phạm Văn D1, Hoàng Văn T3, Nguyễn Trọng T4, Nguyễn Bá B1 và Phạm Văn T2.
  • (Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/12/2024 giữa Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng và Công an thành phố H và Ủy nhiệm chi lập ngày 24/12/2024 tại Kho bạc Nhà nước H3)
  • Tạm giữ số tiền 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng của bị cáo C, số tiền 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng của bị cáo Khắc T, số tiền 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng của bị cáo N đã tự nguyện nộp trước khi xét xử để đảm bảo thi hành án.
  • (Theo Biên lai thu tiền số 0001441, 0001442, 0001443 ngày 26/02/2025 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng)
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vũ Văn C, Phạm Khắc T, Bùi Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo bản án:
  • Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Anh Nguyễn Bá B1 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
  • Ông Phạm Văn T2, anh Hoàng Văn T3, anh Phạm Văn D1, anh Nguyễn Trọng T4 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Duy Khoa

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Hải Nguyễn Nam Tuấn

Bùi Duy Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 48/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Cương và đồng phạm -Tô chuc Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger