Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 48/2025/DS-PT

Ngày 20/02/2025

V/v tranh chấp hợp đồng

góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Hoàng Thành;

Ông Nguyễn Văn Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Ông Trương Minh Diền – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 285/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng góp hụi.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 08 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 342/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Chung Thị Mỹ C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số D V, khóm E, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thanh M, sinh năm 1967. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • 1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  • 2 Bà Lâm Thị Ngọc L, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt – nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
  • Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thanh M là bị đơn, ông Phạm Văn T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Chung Thị Mỹ C yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

Bà Chung Thị Mỹ C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Thanh M và chồng là ông Phạm Văn T phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà C số tiền hụi còn nợ với tổng số tiền của 4 dây hụi là: 752.000.000 đồng.

Thời điểm khởi kiện do có những dây hụi chưa mãn nên bà C chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà M và chồng là ông T phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà C số tiền hụi còn nợ với tổng số tiền của 4 dây hụi là: 752.000.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, do các dây hụi đều đã mãn nên bà C có đơn khởi kiện bổ sung. Theo đơn khởi kiện bổ sung đề ngày 18/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà C trình bày như sau:

Bà M chơi hụi nhưng đã ngưng đóng hụi cho bà C với nội dung cụ thể như sau:

  1. Dây thứ nhất: Khui vào ngày 15/12/2022 âm lịch (nhằm ngày 06/3/2023 dương lịch ), bà C có lên 02 dây hụi 10.000.000 đồng, nửa tháng khui 1 lần, vào ngày 15 và 30 âm lịch hàng tháng. Mỗi dây hụi có 20 phần, kết thúc vào 30/8/2023 âm lịch (nhằm ngày 14/10/2023 dương lịch), trong đó bà M tham gia mỗi dây 01 phần. Kỳ khui đầu tiên ngày 15/12/2022 âm lịch (nhằm ngày 06/3/2023 dương lịch) bà M ra lời 2.200.000 đồng để hốt, với số tiền hốt 02 phần (mỗi dây 01 phần) được là: 286.400.000 đồng. Hai dây hụi này bà M đóng được mỗi dây 03 kỳ còn nợ lại mỗi dây 16 kỳ:

    10.000.000 đồng x 16 kỳ x 02 dây = 320.000.000 đồng.

  2. Dây thứ hai: Khui vào ngày 15/01/2023 âm lịch (nhằm ngày 05/02/2023 dương lịch), bà C có lên 04 dây hụi 2.000.000 đồng, nửa tháng khui 1 lần vào ngày 15 và 29 âm lịch hàng tháng, mỗi dây hụi có 25 phần, kết thúc vào ngày 15/12/2023 âm lịch (nhằm ngày 25/01/2024 dương lịch) trong đó bà M tham gia mỗi dây hụi 01 phần. Kỳ khui đầu tiên ngày 15/01/2023 âm lịch (nhằm ngày 05/02/2023 dương lịch) bà M ra lời 400.000 đồng để hốt 02 dây, số tiền hốt được là: 71.600.000 đồng, 02 dây hụi này bà M đóng được mỗi dây 02 kỳ, còn nợ lại 22 kỳ/dây.

    2.000.000 đồng x 22 kỳ x 02 dây = 88.000.000 đồng.

    Kỳ khui lần hai: Vào ngày 29/01/2023 âm lịch (nhằm 19/02/2023 dương lịch) bà M ra lời: 430.000 đồng để hốt 02 phần hụi của 02 dây còn lại với số tiền hốt được là: 70.220.000 đồng, 02 dây hụi này bà M đóng được mỗi dây 01 kỳ, còn nợ lại 22 kỳ/dây.

    2.000.000 đồng x 22 kỳ x 02 dây = 88.000.000 đồng

    Tổng số tiền 04 phần hụi của 04 dây thứ hai bà M nợ lại là: 176.000.000 đồng.

  3. Dây thứ 3: Khui vào ngày 19/01/2023 âm lịch (nhằm 09/02/2023 dương lịch), bà C có lên 03 dây hụi 5.000.000 đồng, nửa tháng khui 1 lần, vào ngày 19 và 04 âm lịch hàng tháng, dây hụi có 24 phần, trong đó bà M tham gia 1 phần của 01 dây, kết thúc vào ngày 19/12/2023 âm lịch (nhằm 09/01/2024 dương lịch). Kỳ đầu tiên ngày 19/01/2023 âm lịch (nhằm 09/02/2023 dương lịch) bà M ra lời 1.000.000 đồng để hốt. Số tiền hốt được là: 73.500.000 đồng. Dây hụi này bà M đóng được 3 kỳ, nợ lại 20 kỳ:

    5.000.000 đồng x 20 kỳ = 100.000.000 đồng.

  4. Dây hụi thứ tư: Khui vào ngày 09/02/2023 âm lịch (nhằm 28/02/2023 dương lịch), bà C có lên 03 dây hụi 6.000.000 đồng, nửa tháng khui 01 lần, vào ngày 09 và 24 âm lịch hàng tháng, mỗi dây hụi có 24 phần. Trong đó bà M tham gia mỗi dây 01 phần, kết thúc vào ngày 9/12/2023 âm lịch (nhằm 19/01/2024 dương lịch). Kỳ khui hụi đầu tiên 09/02/2023 âm lịch (nhằm 28/02/2023 dương lịch), bà M ra lời 1.800.000 đồng để hốt hết 03 phần hụi của cả 03 dây. Số tiền hốt được 03 phần của 03 dây hụi là: 280.800.000 đồng. Cả 03 dây hụi này bà M chưa đóng được kỳ nào hết. Còn nợ là 23 kỳ:

    6.000.000 đồng x 23 kỳ x 03 dây =414.000.000 đồng.

Bà C đã dùng tiền của mình đóng thay cho bà M để giao tiền hụi cho các hụi viên vào mỗi kỳ hốt hụi. Tổng số tiền bà C phải đóng thế cho bà M của 4 dây hụi là: 1.010.000.000 đồng. Vừa hốt hụi xong dây hụi thứ 4 thì bà C hay tin bà M đã bỏ trốn. Bà C có điện thoại thì máy đã khóa. Bà C xuống tới nhà bà M thì gặp ông T (là chồng bà M). Ông T có hứa sẽ cùng bà M trả tiền cho bà C đầy đủ và sẽ kêu bà M điện thoại về cho bà C. Nhưng khi bà C liên lạc được với bà M cho đến giờ thì bà M và ông T vẫn chưa đóng tiền hụi cho bà C.

Bà C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xem xét giải quyết buộc bà M và chồng là ông T phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà C số tiền hụi còn nợ với tổng số tiền của 4 dây hụi là: 1.010.000.000 đồng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/7/2024 và tại phiên tòa sơ thẩm, bà C trình bày, có những lần bà M đóng tiền hụi trễ cho bà C nên bà M tự nguyện đóng tiền lãi cho bà C, nên khi khởi kiện bà C không trừ những khoản tiền này ra và kiểm tra sổ sách lại thì bà C phát hiện còn trừ thiếu tiền hụi mà bà M đã đóng. Nay bà M nói những khoản tiền mà bà M chuyển khoản và trả tiền mặt là khoản tiền đóng hụi nên bà C cũng đồng ý trừ ra tiền hụi và bà C cũng trừ ra số tiền mà bà M đã đóng mà bà C tính còn thiếu. Cụ thể, bà M còn nợ tiền hụi như sau:

  • - Dây hụi thứ nhất: Bà M còn nợ 16 kỳ x 02 dây x 10.000.000 đ = 320.000.000 đồng;
  • - Dây hụi thứ hai: Hai dây khui đầu bà M còn nợ 21 kỳ x 02 dây x 2.000.000 đ = 84.000.000 đồng; Hai dây khui lần sau bà M còn nợ 20 kỳ x 02 dây x 2.000.000 đ = 80.000.000 đồng;
  • - Dây hụi thứ ba: Bà M còn nợ 20 kỳ x 5.000.000 đ = 100.000.000 đồng;
  • - Dây hụi thứ tư: Bà M còn nợ 22 kỳ x 03 dây x 6.000.000 đ = 396.000.000 đồng.

Tổng cộng 04 dây hụi bà M nợ 980.000.000 đồng, trừ ra số tiền mà bà M chuyển khoản còn thừa 7.000.000 đồng theo bản sao kê bà M nộp cho Tòa án (Trước đây do bà M nói tiền này là tiền lãi) thì bà M còn nợ số tiền 973.000.000 đồng.

Bà C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xem xét giải quyết buộc bà Nguyễn Thanh M và chồng là ông Phạm Văn T phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà C số tiền hụi còn nợ với tổng số tiền của 4 dây hụi là 973.000.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thanh M trình bày: Bà có tham gia 04 dây hụi nêu trên như bà C trình bày. Tuy nhiên, có dây hụi là do mẹ ruột bà C là bà Lâm Thị Ngọc L làm chủ hụi, có dây hụi do bà Chung Thị Mỹ C làm chủ hụi. Cụ thể bà có nợ bà L và bà C những khoản tiền hụi như sau:

  • - Dây hụi thứ nhất (Bà M nợ bà L): Bà M còn nợ 15 kỳ x 02 dây x 10.000.000 đ = 300.000.000 đồng;
  • - Dây hụi thứ hai (Bà M nợ bà C): Hai dây khui đầu bà M còn nợ 21 kỳ x 02 dây x 2.000.000 đ = 84.000.000 đồng; Hai dây khui lần sau bà M còn nợ 20 kỳ x 02 dây x 2.000.000 đ = 80.000.000 đồng;
  • - Dây hụi thứ ba (Bà M nợ bà C): Bà M còn nợ 20 kỳ x 5.000.000 đ = 100.000.000 đồng;
  • - Dây hụi thứ tư (Bà M nợ bà L): Bà M còn nợ 22 kỳ x 03 dây x 6.000.000 đ = 396.000.000 đồng.

Như vậy, bà M nợ của bà L là 696.000.000 đồng, nợ bà C 264.000.000 đồng trừ ra 7.000.000 đồng bà chuyển khoản cho bà C (Có sao kê của Ngân hàng) nên bà còn nợ bà C 257.000.000 đồng. Nay do bà bị giựt hụi nên bà không còn khả năng chi trả. Bà xin đóng lại đúng số tiền mà bà đã hốt của bà L và bà C. Bà đóng được cho bà L và bà C bao nhiêu tiền thì trừ ra cho bà. Cụ thể, bà xin trả cho bà C 184.000.000 đồng và trả cho bà L 469.000.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn T trình bày: Ông chỉ đồng ý trả 184.000.000 đồng cho bà C. Lý do là vợ ông là bà M đang thiếu bà C số tiền này. Ông đồng ý trách nhiệm liên đới trả nợ với vợ của ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Ngọc L trình bày: Bà là mẹ ruột của C. Trước đây, bà làm chủ hụi được một thời gian thì bà giao cho con gái bà là C làm. Do lúc đầu, C chưa quen công việc này nên lúc nào bà cũng nói với các hụi viên là bà và C cùng làm chủ hụi nên trên danh sách ghi tên hụi viên tham gia hụi lúc nào cũng ghi tên bà và C cùng làm chủ hụi. Nhưng thực tế thì bà không làm chủ hụi của các dây hụi này mà C mới đúng là chủ hụi. C là người gom tiền hụi của các hụi viên. Chỉ chịu trách nhiệm hoàn toàn về tiền bạc với các hụi viên chứ bà không có liên quan gì tới các dây hụi này. Bà chỉ phụ giúp C trong vấn đề hụi thôi chứ không phải tiền của bà. Bà xác định bà không có liên quan gì hết trong vụ án này.

Vụ án được Tòa án nhân dân huyện Trần Đề giải quyết. Tại Bản án sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 08/8/2024 đã quyết định căn cứ vào Điều 471 và Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 16 và Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Chung Thị Mỹ C.
  • - Buộc vợ chồng bà Nguyễn Thanh M, ông Phạm Văn T có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà Chung Thị Mỹ C số tiền nợ hụi là 973.000.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 22/8/2024, bà Nguyễn Thanh M là bị đơn, ông Phạm Văn T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo Bản án sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 08/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; Bị đơn bà M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.

Bà Nguyễn Thanh M là bị đơn, ông Phạm Văn T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày: Kháng cáo yêu cầu xem xét việc Toà án Trần Đề giải quyết quá lớn và vượt quá số tiền hụi mà bà M tham gia chơi hụi và nợ tiền hụi. Hiện nay mất khả năng thanh toán do bị giựt hụi.

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án do bà Nguyễn Thanh M là bị đơn, ông Phạm Văn T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ và hợp pháp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo bà M và ông T. Giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét đơn kháng cáo do bà Nguyễn Thanh M là bị đơn, ông Phạm Văn T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm ngày 22/8/2024 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn, hình thức và nội dung kháng cáo theo quy định các Điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo của bà M, ông T theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Mặc dù, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, bà Lâm Thị Ngọc L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.
  3. [3] Về nội dung: Các bên đương sự bà C là nguyên đơn và bà M là bị đơn đều thống nhất thừa nhận bà M còn nợ số tiền hụi như sau:
    • - Dây hụi thứ hai: Hai dây khui đầu bà M còn nợ 84.000.000 đồng; Hai dây khui lần sau bà M còn nợ 80.000.000 đồng;
    • - Dây hụi thứ ba: Bà M còn nợ 100.000.000 đồng;
    • - Dây hụi thứ tư: Bà M còn nợ 396.000.000 đồng.

    Việc thừa nhận của bà M là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, có cơ sở xác định bà M còn nợ bà C 03 dây hụi trên với tổng số tiền là 660.000.000 đồng.

    Đối với dây hụi thứ nhất bà C trình bày bà M còn nợ 16 kỳ x 02 dây x 10.000.000 đ = 320.000.000 đồng. Nhưng bà M cho rằng bà chỉ còn nợ lại 15 kỳ x 02 dây x 10.000.000 đ = 300.000.000 đồng. Như vậy, có sự chênh lệch 01 kỳ hụi là 20.000.000 đồng. Tòa án tiến hành lấy lời khai của hai bên, đã đối chiếu với bản sao kê của Ngân hàng mà bà M đã nộp cho Tòa án thì khoản chênh lệch 20.000.000 đồng này là khoản tiền bà M trình bày bà đã đóng cho bà L. Tuy nhiên, bà L trình bày bà không có liên quan nào của bà M 20.000.000 đồng. Bà M cũng không có chứng cứ, tài liệu chứng minh có trả cho bà L 20.000.000 đồng này nên bà C yêu cầu bà M, ông T phải trả số tiền 320.000.000 đồng là có căn cứ.

    Như vậy, tổng số tiền bà M còn nợ của 04 dây hụi là 980.000.000 đồng trừ ra 7.000.000 đồng bà M chuyển khoản cho bà C, còn lại số tiền nợ là 973.000.000 đồng. Đối với ông Phạm Văn T (chồng bà M) thì ông cũng đồng ý liên đới trả nợ cho bà C cùng với vợ ông. Tuy nhiên, ông chỉ đồng ý trả số tiền 184.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào quy định tại Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 27; Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 buộc ông T và bà M cùng có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ hụi 973.000.000 đồng cho bà C là có căn cứ.

    Bà M, ông T kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ và hợp pháp. Do đó, kháng cáo của bà M, ông T là không có căn cứ chấp nhận.

  4. [4] Từ những nhận định, phân tích trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà M là bị đơn, ông T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
  5. [5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 296; khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

  1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Nguyễn Thanh M là bị đơn, ông Phạm Văn T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
  2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 08/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.
  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bà Nguyễn Thanh M là bị đơn, ông Phạm Văn T là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mỗi người phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng. Khấu trừ vào tổng số tiền 600.000 đồng mà bà M, ông T đã nộp tạm ứng theo các Biên lai thu tiền số 0007064 và số 0007063 cùng ngày 04/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Bà M, ông T đã thực hiện xong án phí phúc thẩm.

  4. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Vũ Huy Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 48/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận KC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger