Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày 03-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Công Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hoàng Việt
  2. Ông Trần Huy Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 23/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 22/11/2024 đối với bị cáo:

1. Đổ T (Đỗ Trường A); Sinh ngày 16/11/1992; Tại: Huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nơi thường trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đổ Vũ P (đã chết) và bà Kha Thị Mỹ H (đã chết); Vợ Huỳnh Xuân T và bị cáo có 02 (Lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019); Tiền án: Vào ngày 15/10/2013, Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt bị cáo 06 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 28/9/2018, bản án chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/10/2019, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/10/2021, bản án đã được xóa án tích. Bị cáo Đổ Trường A1 bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 16/6/2024 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1

- Ông Lâm Thanh T1, sinh năm: 1996. Địa chỉ: Số C, P, khóm F, phường C, thành Phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

- Ông Lâm Thanh Q, sinh năm: 2003. Địa chỉ: Số C, P, khóm F, phường C, thành Phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

- Ông Trần Hoàng T2, sinh ngày 06/3/2001. Địa chỉ: Số C, đường C, khóm E, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

- Ông Trần Trung K, sinh năm 2000. Địa chỉ: Số G, đường H, khóm B, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

- Ông Trần Vũ P1, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số C, đường T, khóm A, phường E, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

- Bà Trần Thị Tuyết P2, sinh năm 2004. Địa chỉ: Số A, Đ, khóm C, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt);

- Bà Huỳnh Hứa Anh T3, sinh năm 2000. Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt);

- Bà Huỳnh Xuân T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Số G, ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt);

- Bà Đổ Diễm M, sinh năm 1997. Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 ngày 07/6/2024, bị cáo Đổ Trường A1 gọi điện rủ Lâm Thanh T1, Lâm Thanh Q, Trần Vũ P1, Trần Trung K xuống nhà A1 tại ấp C, xã T, huyện T để uống bia (nhậu). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VISION, biển số 83X1-05506 chở theo Trần Thị Tuyết P2 và Q điều khiển xe máy nhãn hiệu CLICK biển số 59F1-66276 đến nhà của bị cáo A1. Sau đó thì P1, K cùng hai người nữa là Trần Hoàng T2 và Huỳnh Hứa Anh T3 đi taxi đến nhà của bị cáo A1. Sau khi đến nhà A1, cả nhóm kéo vào phòng ngủ của A1 bắt đầu uống bia và A1 lấy cái dĩa màu trắng đổ ma túy vào bên trên dĩa, rồi lấy dụng cụ sử dụng ma túy gồm một tờ giấy bạc được cuộn tròn bao quanh bởi ba vỏ đầu lọc thuốc lá, cái thẻ ATM V mang tên “DO DIEM MY” và cái loa hiệu CHARGE 4 và sử dụng ma túy. Bị cáo A1 lấy cái dĩa lấy dĩa ma túy lên dùng ống hút hít một hơi rồi để dĩa ma túy xuống nền nhà. Sau đó, T1, Q, T3, P2, T2 đều lần lượt cùng tham gia sử dụng ma túy. Khi đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra nên lập biên bản quả tang và tạm giữ nhiều đồ vật có liên quan đến vụ án.

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 98/KLMT-KTHS ngày 16 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S đối với M1 tinh thể rắn và bột màu

2

trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,1905 gam, loại Ketamine.

Về vật chứng, Cơ quan điều tra tạm giữ, xử lý:

* Tạm giữ tại hiện trường:

  • 2,0554 gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu vàng, bên ngoài ghi “PHIẾU NIÊM PHONG, VỤ SỐ 98/2024, NGÀY 16 THÁNG 06 NĂM 2024” có chữ ký của những người tham gia đóng gói niêm phong và 02 (hai) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh S;
  • 01 (Một) cái đĩa tròn màu trắng;
  • 01 (Một) tờ giấy bạc được cuộn tròn bao quanh bởi ba vỏ đầu lọc thuộc lá;
  • 01 (Một) loa hiệu CHARGE 4;
  • 01 (Một) thẻ ATM V tên “DO DIEM MY”
  • 03 (Ba) hột quẹt gas đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đỏ, đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Trần Vũ P1:

  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Lâm Thanh T1:

  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Trần Thị Tuyết P2:

  • Tiền Việt Nam: 840.000 đồng;
  • 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu VISION, biển số 83X1-05506;
  • 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Lâm Thanh Q:

  • 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu CLICK biển kiểm soát 59F1-66.276;
  • 01 (Một) điện thoại di động NOKIA màu đỏ đen, đã qua sử dụng;
  • Tiền Việt Nam: 25.200.000 đồng;

* Tạm giữ của Huỳnh Hứa Anh T3:

  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Đổ Trường A1:

3

  • 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 83X1-039.35, đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Trần Trung K:

  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;
  • 01 (Một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng;

* Tạm giữ của Trần Hoàng T2:

  • 01 (Một điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả lại cho chủ sở hữu.

- Trần Vũ P1: 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE 6 màu vàng, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE X màu vàng, đã qua sử dụng;

- Lâm Thanh Q: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu CLICK biển kiểm soát 59F1-66.276; 01 (Một) điện thoại di động NOKIA màu đỏ đen, đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 25.200.000 đồng;

- Huỳnh Hứa Anh T3: 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

- Trần Trung K: 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu xanh, đã qua sử dụng;

- Trần Hoàng T2: 01 (Một điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

- Lâm Thanh T1: 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

- Trần Thị Tuyết P2: 01 (Một) xe máy biển số 83X1-05506; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam: 840.000 đồng;

- Đổ Trường An: 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, đã qua sử dụng;

- Huỳnh Xuân T: 01 xe mô tô biển số 83X1-039.35, đã qua sử dụng;

- Đổ Diễm My: 01 (Một) thẻ ATM V tên “DO DIEM MY” (BLĐT số: 207-252).

* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đổ Trường A1 thống nhất với kết luận giám định, bị cáo A1 khai nhận: Vào chiều ngày 07/6/2024 bị cáo điện thoại rủ Lâm Thanh T1, Lâm Thanh Q, Trần Vũ P1 và một số người bạn đến nhà của bị cáo ở ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để uống bia, khi các bạn đến đậy đủ thì bị cáo kêu các bạn cùng bị cáo vào phòng ngủ nhà của bị cáo để uống bia, trong quá trình uống bia bị cáo lấy cái dĩa màu trắng đổ ma túy vào bên trên dĩa, rồi lấy dụng cụ sử dụng ma túy, cái loa hiệu CHARGE 4 và

4

bắt đầu sử dụng ma túy. Bị cáo là người hút trước, rồi bị cáo để dĩa ma túy xuống nền nhà, sau đó T1, Q, T3, P2, T2 đều lần lượt cùng tham gia sử dụng ma túy trong quá trình sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra nên lập biên bản quả tang và tạm giữ nhiều đồ vật có liên quan đến vụ án. Số ma túy và dụng cụ để sử dụng ma túy là của bị cáo, ma túy thì bị cáo mua của một người đàn ông ở thành phố S, các bạn bị cáo chỉ sử dụng không có hùn tiền với bị cáo.

* Trong quá trình điều tra ông Lâm Thanh T1 khai nhận: Vào chiều ngày 07/6/2024 ông cùng với Q, P2 đến nhà A1 ở ấp C chơi, khi đến nhà thì A1 là người ra mở cửa, khi các bạn đến đầy đủ thì A1 kêu vô phòng nhậu, khi nhậu thì có dĩa ma túy của A1 để sẵn trên nền nhà, khi nhậu được khoảng 1 tiếng thì bắt đầu sử dụng ma túy, A1, Q, P1, K, T3, P2, T2 và ông đều sử dụng trong lúc đang sử dụng thì công an vào bắt quả tang. Số ma túy trên là của A1 có sẵn, khi sử dụng ông không có hùn tiền hay trả tiền cho A1.

* Trong quá trình điều tra ông Lâm Thanh Q khai nhận: Vào chiều ngày 07/6/2024 A1 có điện thoại cho ông rủ xuống nhà ở ấp C để nhậu, điện toại xong ông cùng P2 và T1 đi nhà của A1, khi đến nhà A1 thì có một mình A1, một lát sau thì có P1, T2, K và một người nữ đến. Sau đó thì tất cả vào phòng để nhậu, khi vào phòng thì thấy bia, mồi nhậu và ma túy có sẵn nên khi nhậu nhậu được một lúc thì sử dụng ma túy, ông nhớ lúc đó có T1, P2, A1 đều sử dụng ma túy, còn ma túy là của A1, còn A1 từ đâu có thì ông không biết.

* Trong quá trình điều tra ông Trần Hoàng T2 khai nhận: Vào chiều ngày 07/6/2024 ông có nhậu tại nhà của A1, khi vào phòng nhậu thì ông có thấy ma túy còn của ai thì ông không biết, khi nhậu ông có sử dụng một hơi còn ai khác sử dụng nữa thì ông không biết.

* Trong quá trình điều tra ông Trần Trung K khai nhận: Ông và A1 là bạn nhau, vào chiều ngày 07/6/2024 ông có gọi điện cho A1 nói là ghé nhà A1 chơi và nghỉ lại sáng hôm sau để đi C, khi vào phòng thì ông không có sử dụng ma túy, còn ma túy và dụng cụ sử dụng là của ai, từ đâu có thì ông không biết vì ngày hôm đó ông không có sử dụng ma túy.

* Trong quá trình điều tra ông Trần Vũ P1 khai nhận: Ông và A1 là bạn bè, vào ngày 07/6/2024 ông xuống nhà A1 cùng với K, T2, T3 để nhậu, khi vào phòng nhậu ngoài bia, mồi thì A1 đã chuẩn bị ma túy, loa mở nhạc tuy nhiên khi nhậu được vài lon thì ông say nên nằm ngủ, còn ai sử dụng thì ông không rõ.

* Trong quá trình điều tra bà Trần Thị Tuyết P2 khai nhận: Vào chiều ngày 07/6/2024 bà cùng với Q, T1 đến nhà A1 ở ấp C chơi, một lúc sau thì có một số bạn lại nữa nên A1 kêu vô phòng nhậu, khi nhậu thì thấy dĩa ma túy trên dĩa, khi nhậu được một chút thì cả nhóm sử dụng ma túy, bà không nhớ những ai sử dụng nhưng bà biết là T3 có sử dụng, ma túy sử dụng này hôm đó là của A1 vì khi vào phòng đã thấy ma túy có sẵn.

* Trong quá trình điều tra bà Huỳnh Hứa Anh T3 khai nhận: Vào chiều ngày 07/6/2024 bà cùng với T2, P1, K đi taxi xuống nhà A1 ở ấp C để nhậu, khi

5

đến nhà A1 thì thấy P2, T1 và Q đang ở nhà A1, sau đó A1 kêu mọi người vào phòng để nhậu, lúc này thấy bia, mồi và ma túy có sẵn, khi nhậu được một chút thì bắt đầu sử dụng ma túy, bà sử dụng được một hơi thì công an vào bắt, ma túy là A1 chuẩn bị sẵn còn A1 có từ đâu bà không biết vì khi sử dụng bà không có đưa tiền cho A1.

* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Huỳnh Xuân T khai nhận: Bà là vợ của bị cáo A1, chiếc xe 83X1-039.35 do bà đứng tên sở hữu, thỉnh thoảng A1 có lấy xe trên đi công việc và đi nhà mẹ ở xã T để đốt nhang, còn việc A1 tổ chức sử dụng ma túy thì bà không biết.

* Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bà Đổ Diễm M khai nhận: Bà là em của Đổ Trường A1, căn nhà ở ấp C là của cha mẹ để lại hằng ngày do A1 ra vô quản lý vì bà đang ở bên chồng, còn thẻ mang tên “DO DIEM MY” là của bà nhưng do bị hư nên bà đã bỏ, còn việc A1 lấy thẻ trên làm dụng cụ sử dụng ma túy thì bà không biết.

Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSTĐ ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử bị cáo Đổ Trường A1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Đổ Trường A1, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đổ Trường A1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đề nghị áp dụng điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo A1 từ 07 năm đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Nói lời sau cùng tại phiên tòa, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

6

[2] Về sự vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lâm Thanh T1, Lâm Thanh Q, Trần Hoàng T2, Trần Trung K, Trần Vũ P1, Trần Thị Tuyết P2 và Huỳnh Hứa Anh T3 tại phiên tòa. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 292 và 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về tội danh: Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa cho thấy bị cáo Đổ Trường A1 đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Bị cáo Đổ Trường A1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy, vào ngày 07/6/2024, bị cáo đã gọi điện rủ Lâm Thanh T1, Lâm Thanh Q, Trần Vũ P1, Trần Trung K xuống nhà A1 tại ấp C, xã T, huyện T để uống bia (nhậu). Sau đó thì P1, K cùng hai người nữa là Trần Hoàng T2 và Huỳnh Hứa Anh T3 đi taxi đến nhà của bị cáo A1. Sau khi đến nhà A1, cả nhóm kéo vào phòng ngủ của A1 bắt đầu uống bia và A1 lấy cái dĩa màu trắng đổ ma túy vào bên trên dĩa, rồi lấy dụng cụ sử dụng ma túy ra, bị cáo A1 dùng ống hút hít một hơi rồi để dĩa ma túy xuống nền nhà, sau đó, T1, Q, T3, P2, T2 đều lần lượt cùng tham gia sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra nên lập biên bản quả tang. Tại Bản kết luận giám định số: 98/KLMT-KTHS ngày 16 tháng 6 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S đối với M1 tinh thể rắn và bột màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,1905 gam, loại Ketamine. Như vậy đủ căn cứ kết luận bị cáo Đổ Trường A1 đã tổ chức cho nhiều người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy và khi phạm tội bị cáo từng bị kết án chưa được xóa án tích nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết đinh khung là “đối với 02 người trở lên và tái phạm nguy hiểm” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề truy tố: Bị cáo Đổ Trường A1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo Đổ T là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý về các chất ma túy của Nhà nước đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo và giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời còn răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

7

[5] Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo có nhân thân xấu vì bị cáo từng bị kết án về tội liên quan đến việc mua bán và tàng trữ trái phép chất ma ma túy; Về tình tiết giảm nhẹ: Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền sự. Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo, để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Đối với các vật chứng: 2,0554 gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu vàng, bên ngoài ghi “PHIẾU NIÊM PHONG, VỤ SỐ 98/2024, NGÀY 16 THÁNG 06 NĂM 2024” có chữ ký của những người tham gia đóng gói niêm phong và 02 (hai) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh S; 01 (Một) cái đĩa tròn màu trắng; 01 (Một) tờ giấy bạc được cuộn tròn bao quanh bởi ba vỏ đầu lọc thuộc lá; 03 (Ba) hột quẹt gas đã qua sử dụng. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, do đó căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với các vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng; Xét thấy, đây là các tài sản hợp pháp của bị cáo và bị cáo không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo cho nên cần trả lại cho bị cáo A1.

- Đối với: 01 (Một) loa hiệu CHARGE 4. Xét thấy, đây là các tài sản hợp pháp của bị cáo và bị cáo dùng cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nên cho nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

- Đối với các vật chứng và tài sản Cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đổ Trường A1, do thông tin về những người này quá ít nên chưa thể xác định được những người này là ai. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.

[8] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Hoàng T2, Trần Vũ P1, Trần Thị Tuyết P2, Lâm Thanh Q, Lâm Thanh T1, Huỳnh Hứa Anh T3, Cơ quan điều tra sẽ chuyển hồ sơ để xử lý hành chính theo quy định.

[9] Đối với bà Huỳnh Xuân T và Đổ Diễm M là người nhà của bị can A1 nhưng không biết việc A1 tổ chức sử dụng ma túy tại căn nhà thuộc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên không xem xét xử lý.

8

[10] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đổ Trường A1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào các điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đổ Trường A1.

* Tuyên bố bị cáo Đổ Trường A1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

* Xử phạt:

- Xử phạt bị cáo Đổ Trường A1 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.

* Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy: 2,0554 gam ma túy loại Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu vàng, bên ngoài ghi “PHIẾU NIÊM PHONG, VỤ SỐ 98/2024, NGÀY 16 THÁNG 06 NĂM 2024” có chữ ký của những người tham gia đóng gói niêm phong và 02 (hai) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh S; 01 (Một) cái đĩa tròn màu trắng; 01 (Một) tờ giấy bạc được cuộn tròn bao quanh bởi ba vỏ đầu lọc thuộc lá; 03 (Ba) hột quẹt gas đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo Đổ Trường A1: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen, đã qua sử dụng.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) loa hiệu CHARGE 4.

(Các vật chứng và tài sản trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/10/2024).

9

* Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đổ Trường A1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; NCLQ;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Công an huyện Trần Đề
  • (cơ quan CSĐT, bộ phận HSNVCS, cơ quan
  • THAHS và Nhà tạm giữ);
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Lưu (HSVA & TA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa

Lý Công Minh

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Tuyên bố bị cáo Đổ Trường A1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. * Xử phạt: - Xử phạt bị cáo Đổ Trường A1 07 (bảy) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành phạt tù tính từ ngày 07/6/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger