|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày 21-11-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Khắc Quyết;
Bà Đỗ Thị Viện;
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hữu K, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1994 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T và bà Bùi Thị L; có vợ là Tạ Thị T1 và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 132/QĐ-XPHC ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Công an huyện C, thành phố Hải Phòng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác hình thức phạt tiền, số tiền 6.500.000đồng; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28-02-2024; có mặt.
- Trần Thị L1, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1984 tại Thái Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quang T2 và bà Trần Thị H; có chồng là Bùi Đình Q và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04-01-2024; có mặt.
- Bùi Đình Q, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1984 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đình Q1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T3; có vợ là Trần Thị L1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 21-12-2023 đến ngày 29-12-2023 chuyển tạm giam, đến ngày 01-02-2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh, đến ngày 30-8-2024 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Trần Văn T4, sinh ngày 17 tháng 11 năm 1993 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 và bà Lê Thị T5; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06-8-2024; có mặt.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H2; chị Nguyễn Thị Thanh T6; anh Nguyễn Quang Trung H3; bà Nguyễn Thị T3; Anh H2, chị T6, anh H3 đều vắng mặt; bà T3 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị L1 và chồng là Bùi Đình Q có quan hệ xã hội quen biết với Nguyễn Hữu K. Khoảng đầu tháng 01-2023, K trao đổi với L1 về việc bán lô đề cho K để hưởng tiền phần trăm hoa hồng, L1 đồng ý, cả hai thống nhất như sau: Hàng ngày L1 bán lô đề cho người khác tại nhà của mình. Khắc sẽ trả cho L1 07%/tổng số tiền khách đánh đề; 04%/tổng số tiền khách đánh bao (lô); 13%/tổng số tiền khách đánh xiên 2; 17%/tổng số tiền khách đánh xiên 3 và xiên 4; 20%/tổng số tiền khách đánh ba càng. Dựa trên kết quả Xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng vào khoảng 18 giờ 30 phút hàng ngày, nếu khách đánh đề trúng thưởng sẽ được hưởng theo tỷ lệ 1/90 (1 ăn 90); bao (lô) theo tỷ lệ 1/3,5 (1 ăn 3,5); xiên 2 theo tỷ lệ A (1 ăn 15); xiên 3 theo tỷ lệ 1/48 (1 ăn 48); xiên 4 theo tỷ lệ 1/80 (1 ăn 80); ba càng theo tỷ lệ 1/400 (1 ăn 400). Sau khi bán lô đề cho khách xong, trước 18 giờ 30 phút, L1 sẽ tổng hợp lại và chuyển bảng cho K bằng hình thức nhắn tin qua mạng xã hội Zalo. Khắc tạo nhóm Z có tên là “B.C Loan”, trong nhóm Zalo này có tài khoản Zalo của L1 mang tên “Loan T7”, tài khoản Z mang tên “Núi Tiền” và tài khoản mang tên “Minh Quân” của K. Sau khi L1 chuyển khoản cho K, K sẽ tổng hợp lại để xác định tỷ lệ thắng thua dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B, thanh toán tiền hoa hồng cho L1 và trả tiền cho khách chơi lô đề (nếu trúng). Từ đầu tháng 01-2023 đến cuối tháng 7-2023, giữa K và L1 thanh toán tiền trực tiếp cho nhau tại nhà L1 hoặc nhà Khắc. Từ đầu tháng 8-2023 đến ngày 20-12-2023, K sử dụng số tài khoản 101868652030 của Ngân hàng A1 mang tên Nguyễn Hữu K và số tài khoản 100877534969 của Ngân hàng V mang tên Nguyễn Quang Trung H3 (tài khoản này Khắc mượn của H3, là bạn của K) để thanh toán với L1 qua số tài khoản 2119205105972 của Ngân hàng A1 mang tên Trần Thị L1.
Trong quá trình bán lô đề K đưa cho L1 nhiều quyển tích kê để L1 ghi cho người mua lô đề, L1 còn ghi số lô đề cho khách vào một cuốn sổ nhưng chỉ có một số ngày ghi đầy đủ các thông tin (thời gian, các số lô đề khách đánh, số tiền của từng số lô đề, tổng hợp số tiền trong ngày), những ngày còn lại L1 không ghi đầy đủ các thông tin. L1 trực tiếp thực hiện việc bán lô đề cho K từ khoảng đầu tháng 01-2023 đến ngày 06-12-2023 và ngày 12-12-2023.
Trong các ngày 07-12-2023, 08-12-2023, 09-12-2023 và từ ngày 13-12-2023 đến ngày 21-12-2023, do bận công việc gia đình, L1 đã nhờ Bùi Đình Q thay mình bán lô đề cho khách, sau đó Q tổng hợp lại và nhắn tin qua mạng xã hội Zalo từ tài khoản của Q mang tên “Đình Quân” đến tài khoản của L1 để L1 chuyển cho K. L1 đưa cho Q 01 quyển tích kê để ghi cho khách và 01 quyển sổ L1 vẫn ghi chép số lô đề hàng ngày để Q ghi chép, tổng hợp. Số tiền bán lô đề được cho khách, Q sử dụng số tài khoản 3680198488888 của Ngân hàng M1 mang tên Bùi Đình Q chuyển đến số tài khoản của L1.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13-12-2023, Trần Văn T4 đến nhà Bùi Đình Q đánh lô (bao) số “00” với số tiền 2.000.000đồng, Q đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi theo dõi kết quả xổ số kiến thiết Miền B, T4 biết mình đã trúng thưởng số “00” nên đi đến nhà gặp Q để lấy tiền. Q nói với T4 cung cấp số tài khoản của T4 cho Q để Q sẽ chuyển khoản thanh toán sau vì Q không có đủ tiền mặt. T4 cung cấp cho Quân số tài khoản 101871132192 của Ngân hàng V mang tên Trần Văn T4 rồi đi về nhà. Q nhắn tin cho L1 thông báo việc Trọng trúng lô được tổng số tiền là 7.000.000đồng và gửi số tài khoản của T4 cho L1. Ngay sau đó, L1 đã chuyển 7.000.000đồng từ tài khoản của L1 đến tài khoản của T4. Số tiền trúng lô, T4 đã chi tiêu cá nhân hết.
Khoảng 17 giờ ngày 19-12-2023, có một người đàn ông (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) đến nhà Q đánh đề số “77” với số tiền là 200.000đồng. Khoảng 30 phút sau có một người đàn ông khác (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) đánh đề đầu 4, 5, 6, 7, 8 (từ số 40 đến số 89 = 50 số) mỗi số 10.000đồng = 500.000đồng. Ngoài ra còn có một số người khác không rõ nhân thân lai lịch đánh lô đề với số tiền là 3.677.000đồng. Tổng số tiền khách đánh lô đề ngày 19-12-2023 là 4.377.000đồng. Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng ngày 19-12-2023 có giải đặc biệt có hai số cuối là “77” nên có hai người trúng thưởng, một người trúng thưởng 18.000.000đồng (200.000 đồng x 90 = 18.000.000đồng), một người trúng thưởng 900.000đồng (10.000 đồng x 90 = 900.000đồng). Q nhắn tin thông báo cho L1 biết về việc có hai người khách trúng thưởng. L1 sử dụng số tài khoản của mình chuyển 5.000.000đồng đến tài khoản của Q. Q sử dụng tài khoản của mình chuyển 5.000.000đồng đến số tài khoản 107872763234 của Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị Thanh T6 (sinh năm 1986, nơi thường trú và nơi ở hiện tại: tổ T, phường B, quận Đ, Hải Phòng) để nhờ chị T6 đưa tiền mặt cho mình. Q đến nhà gặp chị T6 để nhận số tiền 5.000.000đồng. Q sử dụng số tiền này và số tiền của mình thanh toán cho khách trúng thưởng. Khoảng 15 giờ ngày 20-12-2023, người đàn ông trúng thưởng 900.000đồng đến nhà Q nhận tiền. Khoảng 14 giờ ngày 21-12-2023, người khách trúng thưởng 18.000.000đồng đến nhà Q nhận tiền. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong ngày 19-12-2023 là 23.277.000đồng.
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 21-12-2023, Q mang 01 cuốn sổ ghi số lô đề; 01 quyển tích kê; 02 bút bi, mực màu xanh; 01 ghế gấp bằng kim loại; 01 bàn nhựa màu đỏ ra ngồi trước cổng nhà mình để bán lô đề cho khách. Q bán được nhiều số lô đề cho khách được tổng số tiền là 10.650.000đồng. Q mang số tiền này vào để trên mặt bàn ăn trong nhà để trên đó cùng với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen của Q rồi tiếp tục ra cửa nhà bán lô đề. Khoảng 18 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Văn H2 đi đến đánh 100.000đồng đề số “16”, Q đồng ý viết tích kê đề, ký tên rồi đưa tích kê cho ông H2, ông H2 nhận tích kê và đưa cho Q 100.000đồng thì bị Công an quận Đ bắt quả tang. Thu giữ: 01 tích kê đề ngày 21-12-2023, ghi số đề “16”; 01 tờ tiền polyme mệnh giá 100.000đồng; 01 cuốn sổ ghi số lô đề gồm 82 trang, tính cả trang bìa, kích thước (23,7 x 16,7)cm; 01 quyển tích kê, chưa ghi nội dung; 02 bút bi, mực màu xanh; 01 ghế gấp bằng kim loại, kích thước (84 x 46 x 44)cm; 01 bàn nhựa màu đỏ, kích thước (63,8 x 41,5 x 50)cm.
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 21-12-2023, bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1963, nơi thường trú và nơi ở hiện tại: tổ Đ, phường B, quận Đ, Hải Phòng (là mẹ đẻ cùng cư trú với Q) giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen; số tiền 10.650.000đồng. Theo bà T3 khai: bà chung sống cùng với vợ chồng Q, ngày 31-12-2024, sau khi biết Q bị Công an quận Đ bắt quả tang về việc ghi lô đề tại nhà, Q được đưa về trụ sở Công an để điều tra. Sau đó, bà T3 phát hiện trên bàn trong phòng sinh hoạt chung của gia đình có để số tiền 10.650.000đồng và chiếc điện thoại di động Iphone XS Max, màu đen của Q nên đã mang đến Công an quận Đ giao nộp để phục vụ công tác điều tra.
Các ngày cụ thể L1, Q bán lô đề đến nay xác định được như sau:
Ngày 07-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 4.310.000đồng, thu lợi 293.500đồng, không có khách nào trúng thưởng.
Ngày 08-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 3.760.000đồng, thu lợi 299.700đồng, có khách trúng thưởng được 3.900.000đồng.
Ngày 09-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 3.040.000đồng, thu lợi 189.000đồng, có khách trúng thưởng được 3.550.000đồng.
Ngày 12-12-2023, L1 bán lô đề cho khách được 2.440.000đồng, thu lợi 192.250đồng, có khách trúng thưởng được 1.800.000đồng.
Ngày 13-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 5.595.000đồng, thu lợi 412.850đồng, T4 trúng thưởng được 7.000.000đồng.
Ngày 14-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 3.060.000đồng, thu lợi 217.200đồng, có khách trúng thưởng được 5.400.000đồng.
Ngày 15-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 2.960.000đồng, thu lợi 261.100đồng, không có khách nào trúng thưởng.
Ngày 16-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 2.110.000đồng, thu lợi 163.200đồng, có khách trúng thưởng được 3.150.000đồng.
Ngày 17-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 5.960.000đồng, thu lợi 416.000đồng, có khách trúng thưởng được 2.700.000đồng.
Ngày 18-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 2.030.000đồng, thu lợi 162.500đồng, có khách trúng thưởng được 900.000đồng.
Ngày 19-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 4.377.000 đồng, thu lợi 268.090 đồng, có khách trúng thưởng được 18.900.000 đồng.
Ngày 20-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 8.540.000đồng, thu lợi 643.300đồng, có khách trúng thưởng được 3.900.000đồng.
Ngày 20-12-2023, Q bán lô đề cho khách được 10.750.000đồng, nếu không bị bắt quả tang sẽ thu lợi 552.300đồng, có khách trúng thưởng được 3.900.000đồng.
Đối với các ngày còn lại, L1 bán lô đề cho khách không xác định được số tiền đánh bạc cụ thể của từng ngày.
Tài liệu điều tra đến nay xác định: Từ đầu tháng 01-2023 đến ngày 21-12-2023, tổng số tiền K, L1 sử dụng trong việc tổ chức đánh bạc là 264.712.000đồng (số tiền bán lô đề L1 chuyển khoản cho K) + 296.137.000đồng (số tiền K chuyển cho L1) + 10.750.000đồng (số tiền bị bắt quả tang) = 571.599.000đồng, K không được hưởng lợi (bị thua 31.425.000đồng), L1 được hưởng lợi 24.361.590đồng.
Ngày 07-12-2023, 08-12-2023, 09-12-2023 và từ ngày 13-12-2023 đến ngày 21-12-2023, Q giúp sức cho L1 trong việc tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức bán lô đề cho người khác với tổng số tiền là 56.492.000đồng (số tiền Quân bán lô đề cho khách) + 49.400.000đồng (số tiền khách trúng) = 105.892.000đồng.
Ngày 13-12-2023, Trần Văn T4 đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bao (lô) với số tiền 2.000.000đồng, T4 trúng thưởng được 7.000.000đồng. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 9.000.000đồng, hưởng lợi 5.000.000đồng.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q, Trần Văn T4 khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 37/CT-VKSÐS ngày 30-9-2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q đồng phạm về tội “Tổ chức Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Truy tố Trần Văn T4 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu K từ 120.000.000đồng đến 140.000.000đồng.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trần Thị L1 từ 80.000.000đồng đến 90.000.000đồng.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạt tiền bị cáo Bùi Đình Q từ 60.000.000đồng đến 70.000.000đồng.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trần Văn T4 từ 20.000.000đồng đến 30.000.000đồng.
Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 321; khoản 5 Điều 322 Bộ luật Hình sự do các bị cáo đều bị đề nghị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 tích kê đề ngày 21-12-2023, ghi số đề “16”;
- - 01 cuốn sổ ghi số lô đề gồm 82 trang, tính cả trang bìa, kích thước (23,7x16,7)cm;
- - 01 quyển tích kê chưa ghi nội dung;
- - 02 bút bi mực màu xanh;
- - 01 ghế gấp kim loại, kích thước (84x46x44)cm;
- - 01 bàn nhựa màu đỏ, kích thước (63,8x41,5x50)cm.
- + Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ tiếp nhận, quản lý: 01 điện thoại Iphone XS Max màu đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 357297099319874; Imei2: 357297099204076 thu giữ của Bùi Đình Q để phục vụ điều tra mở rộng vụ án.
- + Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:
Số tiền 10.750.000đồng theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/107 ngày 22-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
- + Truy thu số tiền 24.361.590đồng là tiền bị cáo Trần Thị L1 thu lợi bất chính.
- + Truy thu số tiền 7.000.000đồng là tiền bị cáo Trần Văn T4 thu lợi bất chính.
- + Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu K 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, không kiểm tra I do không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
- + Trả lại bị cáo Trần Thị L1 01 điện thoại OPPO A12 màu xanh dương đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I do không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q, Trần Văn T4 thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về tội danh:
- [3] Về chứng cứ xác định các bị cáo có tội: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q, Trần Văn T4 đều nhận tội; lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của đối tượng đánh bạc, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và xem xét công khai tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Từ tháng 01-2023 đến ngày 21-12-2023, Nguyễn Hữu K và Trần Thị L1 đã có hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán lô đề cho người chơi. Khắc tạo lập nhóm Zalo tên “B.C L1” trong đó có tài khoản Zalo của Trần Thị L1 mang tên “Loan T7”; tài khoản Zalo mang tên “Núi Tiền” và tài khoản Z mang tên “Minh Quân” của Nguyễn Hữu K. Sau khi bán lô đề cho khách xong L1 sẽ tổng hợp lại và chuyển bảng đề cho K bằng hình thức nhắn tin qua nhóm Zalo. Sau đó, K sẽ tự tính toán tiền thắng thua của các bảng đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng 18h30 phút hàng ngày, trực tiếp trả tiền thắng thua của khách chơi và tiền phần trăm hoa hồng cho L1. Tổng số tiền K và L1 sử dụng vào việc đánh bạc là 571.599.000đồng. Đối với bị cáo Bùi Đình Q vào các ngày 07-12-2023; 08-12-2023; 09-12-2023 và từ ngày 13-12-2023 đến ngày 21-12-2023 bị cáo đã có hành vi giúp sức cho Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1 tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán lô đề cho người chơi. Do bận công việc L1 đã nhờ chồng là Bùi Đình Q bán lô đề cho khách thay mình. Sau khi bán lô đề cho khách, trước 18 giờ 30 phút Q tổng hợp lại các bảng đề, nhắn tin qua mạng xã hội Zalo từ tài khoản "Đình Quân" của Q sang tài khoản Z “Loan T7” của L1 để L1 chuyển cho K. Tổng số tiền Quân giúp sức cho K và L1 sử dụng vào việc đánh bạc là 105.892.000đồng. Đối với bị cáo Trần Văn T4 đã có hành vi trực tiếp đánh số lô đề của Bùi Đình Q vào ngày 13-12-2024 số tiền là 2.000.000đồng, T4 trúng thưởng được 7.000.000đồng. Tổng số tiền bị cáo T4 sử dụng vào việc đánh bạc là 9.000.000đồng. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc dưới mọi hình thức được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, tuy nhiên do mục đích kiếm lời nhanh chóng nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Văn Trọng phạm T8 “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bởi vậy, cần phải được xử lý thỏa đáng.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Văn Trọng phạm T8 lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Thị L1 sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú có thể xem đây là tình tiết giảm nhẹ khác của bị cáo L1 theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Đình Q có cụ nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Bảng vàng danh dự, ông nội là thương binh hạng 3/4 nên có thể xem đây là tình tiết giảm nhẹ khác của bị cáo Q theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [7] Các bị cáo Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp. Trong vụ án này, Nguyễn Hữu K có vai trò là người chủ mưu, tự mình lập ra nhóm zalo "B.C Loan" để thu gom các bảng đề của Trần Thị L1, tự mình tính toán thắng thua của các bảng đề, trực tiếp trả tiền thắng thua và trả tiền hoa hồng cho L1. Do đó, xác định vai trò của bị cáo K là cao nhất và cao hơn bị cáo L1 nên phải chịu hình phạt nặng nhất. Bị cáo L1 là người có vai trò thực hành tích cực, trực tiếp bán đề thuê cho K để hưởng tiền hoa hồng. Bị cáo L1 là người trực tiếp nhận tiền thắng thua từ K để trả cho người chơi nên vai trò của bị cáo L1 cao thứ hai sau K và cao hơn vai trò của bị cáo Q nên phải chịu hình phạt thấp hơn bị cáo K nhưng cao hơn bị cáo Q. Bị cáo Q có vai trò là người giúp sức tích cực cho bị cáo L1, K, sau khi bị cáo L1 bận việc giao lại cho Q bán số lô đề cho khách, sau khi bán được lô đề thì chuyển bảng đề cho L1 để L1 chuyển cho K, bị cáo Q không trực tiếp nhận tiền hoa hồng hay tiền thắng thua từ K để trả cho người chơi nên vai trò của bị cáo Q thấp nhất nên mức hình phạt cần thấp nhất và thấp hơn mức hình phạt của bị cáo L1.
- [8] Về hình phạt chính: Xét thấy các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với mục đích thu lợi cho bản thân, có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu tại Mục [6]. Tại phiên tòa, các bị cáo đều đề nghị được phạt tiền và có khả năng nộp phạt. Việc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Bởi vậy áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự xử phạt tiền các bị cáo.
- [9] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321, khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Nhưng xét thấy, các bị cáo đều đã bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Bởi vậy, không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
- [10] Về xử lý vật chứng đang tạm giữ:
- [10.1] Đối với:
- - 01 tích kê đề ngày 21-12-2023, ghi số đề “16”;
- - 01 cuốn sổ ghi số lô đề gồm 82 trang, tính cả trang bìa, kích thước (23,7x16,7)cm;
- - 01 quyển tích kê chưa ghi nội dung;
- - 02 bút bi mực màu xanh;
- - 01 ghế gấp kim loại, kích thước (84x46x44)cm;
- - 01 bàn nhựa màu đỏ, kích thước (63,8x41,5x50)cm.
Xét thấy đây là các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- [10.2] Đối với:
01 điện thoại Iphone XS Max màu đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 357297099319874; Imei2: 357297099204076 thu giữ của Bùi Đình Q. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện bị cáo Q sử dụng vào việc phạm tội tuy nhiên do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ đang tiếp tục điều tra mở rộng vụ án nên cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ tiếp nhận, quản lý để phục vụ công tác điều tra.
- [10.3] Đối với:
Số tiền 10.750.000đồng theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/107 ngày 22-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn. Xét thấy đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- [10.4] Đối với:
- - Số tiền 24.361.590đồng là tiền bị cáo Trần Thị L1 thu lợi bất chính nên truy thu để nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Số tiền 7.000.000đồng là tiền bị cáo Trần Văn T4 thu lợi bất chính nên truy thu để nộp Ngân sách Nhà nước.
- - 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, không kiểm tra I do không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu K, nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
- - 01 điện thoại OPPO A12 màu xanh dương đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I do không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo Trần Thị L1, nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
- [10.1] Đối với:
- [11] Trong vụ án này, còn có Nguyễn Văn H2 có hành vi đánh bạc dưới hình thức mua số đề với số tiền 100.000đồng của Bùi Đình Q thì bị bắt quả tang. Do H2 chưa có tiền án, tiền sự nên Công an quận Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78/QĐ-XPHC ngày 28-8-2024 xử phạt tiền Nguyễn Văn H2 số tiền 350.000đồng.
- [12] Đối với anh Nguyễn Quang Trung H3 là người cho Nguyễn Hữu K mượn tài khoản Ngân hàng V, K sử dụng tài khoản này để thanh toán tiền lô đề với Trần Thị L1. Tài liệu điều tra đến nay xác định anh H3 không biết K sử dụng tài khoản này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
- [13] Đối với chị Nguyễn Thị Thanh T6 là người được Q nhờ chuyển khoản 5.000.000đồng từ tài khoản của Q sang tài khoản của chị T6 để Q lấy tiền mặt từ chị T6 trả cho người trúng lô đề. Chị T6 không biết Q sử dụng số tiền này vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý.
- [14] Kết quả giám định điện thoại di động thu giữ của Bùi Đình Q và lời khai của Q còn thể hiện Q tham gia chơi lô đề với đối tượng Nguyễn Thị M, Trường V1, Bùi Thị H4, Nguyễn Đắc Đ, Sơn L2; tài khoản Zalo có tên “Gà bất tam”, “Ruan You S” và một số đối tượng khác chưa rõ nhân thân lai lịch liên quan đến việc đánh bạc với Q, L1. Tài liệu điều tra đến nay chưa có căn cứ để xử lý. Cơ quan điều tra đã tách vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ, xử lý sau.
- [15] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu K đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Hữu K số tiền 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu) đồng.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 54/2024/HSST-QĐCĐKNCT ngày 01-10-2024 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Nguyễn Hữu K.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị L1 đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trần Thị L1 số tiền 80.000.000đ (Tám mươi triệu) đồng.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 53/2024/HSST-QĐCĐKNCT ngày 01-10-2024 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Trần Thị L1.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Đình Q đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Bùi Đình Q số tiền 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu) đồng.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 52/2024/HSST-QĐCĐKNCT ngày 01-10-2024 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Bùi Đình Q.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Trọng phạm T8 “Đánh bạc”.
Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Trần Văn T4 số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu) đồng.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” số 57/2024/HSST-QĐCĐKNCT ngày 11-12-2024 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo Trần Văn T4.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q, Trần Văn T4 theo khoản 5 Điều 321; khoản 5 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên xử:
- + Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 tích kê đề ngày 21-12-2023, ghi số đề “16”;
- - 01 cuốn sổ ghi số lô đề gồm 82 trang, tính cả trang bìa, kích thước (23,7x16,7)cm;
- - 01 quyển tích kê chưa ghi nội dung;
- - 02 bút bi mực màu xanh;
- - 01 ghế gấp kim loại, kích thước (84x46x44)cm;
- - 01 bàn nhựa màu đỏ, kích thước (63,8x41,5x50)cm.
- + Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ tiếp nhận, quản lý: 01 điện thoại Iphone XS Max màu đen, đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, có số Imei: 357297099319874; Imei2: 357297099204076 thu giữ của Bùi Đình Q.
- + Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước:
Số tiền 10.750.000đồng theo Chứng từ ghi sổ số CTK2024/107 ngày 22-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn.
- + Truy thu số tiền 24.361.590đồng là tiền bị cáo Trần Thị L1 thu lợi bất chính.
- + Truy thu số tiền 7.000.000đồng là tiền bị cáo Trần Văn T4 thu lợi bất chính.
- + Trả lại bị cáo Nguyễn Hữu K 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng đã qua sử dụng, tình trạng lên nguồn, không kiểm tra I do không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
- + Trả lại bị cáo Trần Thị L1 01 điện thoại OPPO A12 màu xanh dương đã qua sử dụng, tình trạng không lên nguồn, không kiểm tra I do không liên quan đến việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo Thi hành án.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng với Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng).
* Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Nguyễn Hữu K, Trần Thị L1, Bùi Đình Q, Trần Văn T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- - TAND TP.Hải Phòng;
- - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng;
- - VKSND TP.Hải Phòng;
- - PV 06; PC10 Công an TP.Hải Phòng;
- - CA quận Đồ Sơn;
- - Cơ quan THAHS Công an quận Đồ Sơn;
- - VKSND quận Đồ Sơn;
- - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
- - Các Bị cáo;
- - Người tham gia tố tụng;
- - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đỗ Thị Viện - Nguyễn Khắc Quyết |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức đánh bạc và đánh bạc
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức Đánh bạc và Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Hữu K và đồng bọn tổ chức đánh bạc
