|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN NAM HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI Bản án số: 48/2024/HS - ST Ngày 07 - 11 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Như Long
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Huệ
Bà Bàn Thị Hương Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Chu Quyết Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Mai Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, tại nhà văn hóa thôn Đ, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai lưu động vụ án hình sự thụ lý số 45/2024/TLST - HS ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST - HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn T (Tên gọi khác: Không) Sinh ngày: 20/11/1968 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;
Nơi cư trú: Thôn M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai;
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 1/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Đ (Đã chết) và bà: Phạm Thị T1 (Đã chết).
Vợ: Nguyễn Thị T2; Sinh năm: 1973; Trú tại: Thôn M, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Bị cáo có 04 con; Con lớn sinh năm: 1992; Con nhỏ sinh năm 2000.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Bị cáo có 01 tiền sự. Năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Văn T với thời hạn là 18 tháng kể từ ngày 27/9/2021 theo quyết định số 95/QĐ - TA ngày 25/11/2021. Đến ngày 27/3/2023 chấp hành xong quyết định. Tính đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo Trần Văn T chưa được xóa tiền sự.
Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn T có nhân thân sấu. Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt Trần Văn T 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đến tháng 12/2005 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù và các khoản tiền án phí. Tính đến thởi điểm phạm tội lấn này bị cáo đã được xóa án tích theo quy định.
Năm 2012 bị cáo bị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội với thời hạn 24 tháng theo quyết định số 5260/QĐ - UBND ngày 01/11/2012. Đến ngày 08/11/2014 bị cáo chấp hành xong quyết định và đã được xóa tiền sự theo quy định.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/9/2024, tạm giam từ ngày 20/9/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Cómặt tại phiên tòa.
2. Đào Quang S (Tên gọi khác: Không) Sinh ngày: 27/7/1981 tại huyện B, tỉnh Lào Cai;
Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đào Văn B (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị C (Đã chết).
Vợ: Đào Thị Thu H; Sinh năm: 1983 (Đã ly hôn năm 2021). Hiện trú tại thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Bị cáo chưa có con.
Tiền án: Bị cáo Đào Quang S có 01 tiền án. Bản án số 48/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt Đào Quang S 01 năm 06 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", buộc Đào Quang S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sư sơ thẩm. Ngày 22/12/2022, Đào Quang S thi hành xong khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm; Tháng 12/2023, S chấp hành xong án phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội lần này (ngày 14/9/2024), Đào Quang S chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Bị cáo Đào Quang S có 01 tiền sự. Quyết định số 44/QĐXP ngày 18/5/2022 của Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Quang S bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản". Đến nay, bị cáo chưa chấp hành khoản tiền phạt nên chưa được xóa tiền sự theo quy định.
Nhân thân: Bị Cáo Đào Quang S có nhân thân sấu. Năm 2005 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xử phạt Đào Quang S 02 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích" theo bản án số 26/2005/HSST ngày 27/9/2005, buộc S phải chịu 50.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bản án hình sự phúc thẩm số 23/2005/HSPT ngày 17/11/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai, bác kháng cáo của Đào Quang S và buộc Đào Quang S phải chịu 50.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm. Ngày 09/12/2005, Đào Quang S đã thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm. Ngày 30/11/2006, S chấp hành xong án phạt tù. Đã được xoá án tích.
+ Năm 2011 bị UBND huyện B, tỉnh Lào Cai áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh L đối với Đào Quang S với thời hạn 12 tháng theo quyết định số 4986/QĐ-UBND ngày 04/11/2011. Ngày 04/01/2013, Đào Quang S chấp hành xong quyết định. Đã được xoá tiền sự.
+ Năm 2013 bị cáo Đào Quang S bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo đối với Đào Quang S về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐXP ngày 15/11/2013. Đã được xoá tiền sự.
+ Năm 2018 bị cáo Đào Quang S bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Đào Quang S về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC ngày 08/10/2018. Ngày 29/10/2018, Đào Quang S chấp hành xong tiền phạt. Đã được xoá tiền sự.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/9/2024, tạm giam từ ngày 20/9/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Cótại phiên tòa.
Những người làm chứng:
-
Chị Lý Thị B1; Sinh năm: 1990.
Trú tại: Thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Anh Lê Hữu P; Sinh năm: 1976
Trú Tại: Thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa.
Những người chứng kiến:
-
Anh Đỗ Văn O; Sinh năm: 1973
Trú Tại: Thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa.
-
Anh Phạm Văn H1; Sinh năm: 1986
Trú Tại: Thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 14/9/2024, Đào Quang S (Sinh năm 1981, trú tại thôn T, xã S, huyện B, tỉnh Lào Cai) là đối tượng nghiện chất ma túy đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết từ khu vực thị trấn P vào xã X với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến gần khu vực ngã tư mỏ thuộc thôn H, xã X thì S xuống xe đi bộ sang phía đường đi thôn T, xã G và gặp Trần Văn T (Sinh năm 1968, trú tại thôn M, xã X, huyện B) là người quen biết nhau từ trước đang đi bộ về hướng Đào Quang S. Khi gặp nhau, S đưa cho T 500.000 đồng và bảo “lấy cho em mấy con hàng” (cả hai đểu hiểu là S hỏi T mua ma túy heroine), T đồng ý và nói với S ở đây chờ. T cầm tiền S đưa rồi đi đến quán bia của chị Lý Thị B1 (sinh năm 1990) ở thôn H, xã X, huyện B trả cho chị B1 70.000 đồng T nợ từ trước. Sau đó, Trần Văn T thuê xe ôm của Lê Hữu P (sinh năm 1976, trú tại thôn H, xã X, huyện B) đi từ ngã tư mỏ vào khu vực chợ xã P, huyện B tìm mua ma túy. Khi đến chợ P, T xuống xe và bảo Phước đợi, còn T đi bộ một đoạn thì gặp một người nam giới không quen biết có biểu hiện giống người nghiện ma túy nên T hỏi mua của người này 300.000 đồng ma túy heroine. Người đàn ông đó cầm tiền và đưa cho T 01 gói được gói bằng giấy trắng, T cầm gói ma túy quay lại chỗ Phước đợi và bảo P chở về. Khi P chở T đến gần ngã tư mỏ, T xuống xe trả cho P 100.000 đồng tiền thuê xe, rồi đi bộ ra ngã tư mỏ gặp S. T đưa gói ma tuý vừa mua được cho S, S cầm ma túy cất vào túi quần bên trái phía trước đang mặc thì bị Công an huyện B phát hiện, yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Đào Quang S đã tự giác lấy từ trong túi quần bên trái, phía trước đang mặc 01 gói giấy màu trắng, mở ra bên trong có 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy bạc, bên trong 02 gói giấy bạc này đều chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng giao nộp cho tổ công tác và khai nhận là ma túy loại heroine vừa mua được của Trần Văn T với giá 500.000 đồng. Tại đây Trần Văn T cũng khai nhận 02 gói giấy bạc Sơn vừa giao nộp là ma túy loại Heroine của T vừa bán cho S. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Đào Quang S 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Đào Quang S; Thu giữ của Trần Văn T 01 căn cước công dân số 0100680003565 mang tên Trần Văn T và số tiền 30.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra, Lê Hữu P giao nộp cho Cơ quan điều tra 100.000 đồng tiền T trả tiền thuê xe, chị Lý Thị B1 giao nộp 70.000 đồng tiền T nợ. (Bút lục 01-03, 23-27, 33-39, 92-98, 123-131, 55-56, 59-60).
Tại kết luận giám định số 346/KL - GĐMT ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: Mẫu M1 có khối lượng 0,054 gam; Mẫu M2 có khối lượng 0,064 gam đều là chất ma túy loại Heroine (H). Cơ quan giám định đã trích mẫu giám định, số còn lại sau giám định mẫu M1: 0,034 gam, mẫu M2: 0,040 gam được cho riêng vào từng túi ni lon đựng mẫu cùng mảnh giấy mầu trắng, 02 mảnh giấy bạc và bì niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng K công an tỉnh L hoàn trả lại cơ quan trưng cầu giám định và 200.000₫ đã niêm phong vào 03 phong bì khác nhau và hiện ký gửi tại kho bạc nhà nước huyện B, tỉnh Lào Cai. Hiện cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.
Quá trình điều tra Trần Văn T, Đào Quang S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Cáo trạng số 43/CT - VKSBT ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trần Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Đào Quang S về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quyết định truy tố theo cáo trạng số 43/CT - VKSBT ngày 28/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Tuyên bố bị cáo Đào Quang S phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và đề nghị:
-
Về hình phạt chính:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm 09 (C1) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Quang S từ 01(Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01(Một) năm 09 (C1) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
-
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 0,074 (Không phẩy không bẩy tư ) gam ma tuý Heroine, còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy mầu trắng và bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng K Công an tỉnh L có ghi "Vật chứng còn lại sau trích mâu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Trần Văn T và Đào Quang S ngày 14/9/2024 tại thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai".
- Áp dụng khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) là số tiền do bị cáo Trần Văn T do phạm tội mà có.
- Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng với trình tự thủ tục tố tụng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra Trần Văn T đã khai nhận: Do quen biết nhau từ trước khoảng 8 giờ ngày 14/9/2024 Trần Văn T gặp Đào Quang S tại khu vực ngã tư mỏ thuộc thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi gặp nhau Đào Quang S có nói với T "Mua cho em mấy con hàng" T đồng ý, đồng thời S đưa cho T 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng), T bảo S đợi sau đó cầm tiền của Đào Quang S đi mua ma túy đem về bán cho Đào Quang S 02 gói nhỏ ma túy Heroine có tổng trọng lượng là 0,118 gam với mục đích để kiếm lời. Cụ thể sau khi cầm 500.000đ của Đào Quang S, Trần Văn T đến quán chị Lý Thị B1 dùng số tiền này trả nợ 70.000₫ do T nợ từ trước, sau đó Trần Văn T thuê xe ôm của Lê Hữu P đi vào Chợ P. Khi đến nơi T bảo P đứng đợi rồi T đi bộ một đoạn gặp người đàn ông không quen biết giống người nghiện ma túy nên Trần Văn T hỏi mua ma túy, người này đồng ý, Trần Văn T đưa cho người này 300.000đ và người này đưa cho T 01 gói ma túy được gói bằng giấy trắng, sau đó T cầm gói ma túy vừa mua được quay lại chỗ P và bảo P đi về. Khi về đến ngã tư mỏ, T xuống xe và trả tiền công cho P là 100.000đ rồi ra gặp S đưa gói ma túy vừa mua được cho S. S cầm gói ma túy cho vào túi quần bên trái đang mặc thì cả hai bị công an huyện B phát hiện và bắt quả tang. Tại đây Đào Quang S đã tự giác lấy trong túi quần bên trái ra 01 gói giấy mầu trắng, mở ra bên trong có 02 gói nhỏ đều được gói bằng giấy bạc bên trong đều chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng Đào Quang S khai là ma túy (Heroine) vừa mua của Trần Văn T với giá 500.000đ. Tại đây Trần Văn T cũng khai nhận 02 gói giấy bạc Đào Quang S giao nộp là ma túy (Heroine) T bán cho S với giá 500.000₫.
Tại bản kết luận giám định số 346/KL - GĐMT ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu: Mlcó trọng lượng 0,054 (không phẩy không năm tư) gam và mẫu M2 có trọng lượng 0,064 (Không phẩy không sáu tư) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Đào Quang S ngày 14/9/2024 gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Quá trình điều tra Trần Văn T khai nhận sau khi nhận tiền của Đào Quang S bị cáo đã đi mua 300.000đ ma túy đem về bán cho Đào Quang S với giá 500.000₫ để kiếm lời. Số tiền thu được 200.000đ Trần Văn T sử dụng trả nợ cho chị Lý Thị Bích 7 và trả tiền thuê xe ôm của anh Lê Hữu P là 100.00₫ số tiền còn lại 30.000₫ khi bị bắt giữ Trần Văn T giao nộp cho cơ quan điều tra. Đào Quang S khai nhận mua số ma túy trên của Trần Văn T với mục đích đem về để sử dụng cho bản thân. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Trần Văn T về tội " Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Đào Quang S về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật bảo vệ. Mặt khác các bị cáo đều là những người có nhân thân sấu. Bị cáo Trần Văn T đã từng bị xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và đã bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
Đối với Đào Quang S đã từng bị xử phạt 02 năm tù về tội ( Cố ý gây thương tích" và đã từng bị áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma tuy vào trung tâm chưa bệnh, giáo dục lao động xã hội với thời hạn 12 tháng và đã bị phạt cảnh cáo và phạt tiền 1.500.000đ về hành vi " tàng trữ trái phép chất ma túy". Mặt khác Đào Quang S là đối tượng có 01 tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đến tháng 12/2023 Đào Quang S chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa được xóa án tích theo quy định của pháp luật. Do vậy lần phạm tội này bị cáo Đào Quang S phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng năng là "Tái phạm" được quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo sau khi chấp hành xong hình phạt tù và các biện pháp xử lý hành chính tái hòa nhập cộng đồng trở về địa phương bản thân các bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người có ích cho xã hội và gia đình mà các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi " Mua bán" và "Tàng trữ" 0,118 gam Heroine với mục đích để kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Do vậy đối với các bị cáo cần phải xử lý thật nghiêm minh và lên một mức hình phạt tương xứng với hành vi mức độ phạm tội của từng bị cáo như Hội đồng xét xử đã phân tích đánh giá ở trên và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện để giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo Đào Quang S có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm" theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có chung 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đó là " Thành khẩn khai báo". Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
[5]. Liên quan trong vụ án này còn có người đàn ông mà bị cáo Trần Văn T khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực chợ xã P, huyện B. Quá trình điều tra do không xác định được tên tuổi địa chỉ của người này. Nên không đủ căn cứ để xử lý. Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Lê Hữu P là người làm nghề chở xe ôm, Trần Văn T thuê chở đi mua ma túy và trả 100.000₫ nhưng khi chở T đi mua ma túy anh P không biết Trần Văn T đi mua ma túy, số tiền này anh P đã giao nộp cho cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả.
Đối với chị Lý Thị B1 là người nhận số tiền 70.000đ do T trả là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Quá trình điều tra xác định chị B1 không biết số tiền trên là do phạm tội mà có nên chị đã nộp cho cơ quan điều tra để xử lý theo quy định của pháp luật và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả. Do vậy cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không đề cập xử lý đối với anh Lê Hữu P và chị Lý Thị Bích . Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên không đề cập xử lý và giải quyết.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7]. Về vật chứng của vụ án: 0,074 (Không phẩy không bẩy tư) gam ma tuý Heroine gồm mẫu M1: 0,034 gam và mẫu M2: 0,040 gam, còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy mầu trắng và bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng K Công an tỉnh L có ghi "Vật chứng còn lại sau trích mâu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Đào Quang S, Trần Văn T ngày 14/9/2024 tại thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai". Cơ quan điều tra đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Xác định đây là vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) được niêm phong vào 03 phong bì khác nhau. Hiện đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng (Trong đó thu giữ của Trần Văn T 30.000đ, Anh Lê Hữu P 100.000đ tiền T trả tiền thuê xe và chị Lý Thị Bích 7 tiền T trả nợ). Là số tiền do bị cáo Trần Văn T thực hiện hành vi phạm tội mà có, anh P và chị B1 đã nộp lại cho cơ quan điều tra và đến nay không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả. Hiện đang gửi tại kho bạc nhà nước huyện B. Cơ quan điều tra đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Xác định đây là vật chứng do bị cáo Trần Văn T thực hiện hành vi phạm tội mà có. Do vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng điểm b khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm b khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 giấy chứng minh thư nhân dân của Đào Quang S và 01 căn cước công dân của Trần Văn T. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 564/QĐ - ĐCSHS ngày 17/10/2024 trả lại cho S và T. Đến nay các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí: Các bị cáo Trần Văn T, Đào Quang S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đào Quang S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- - Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 14/9/2024.
- - Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Quang S 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 14/9/2024.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, b, c Khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tuyên tịch thu để tiêu hủy: 0,074 (Không phẩy không bẩy tư) gam ma tuý Heroine gồm mẫu M1: 0,034 gam và mẫu M2: 0,040 gam, còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy mầu trắng và bì thư niêm phong ban đầu gửi giám định được niêm phong trong một bì thư in sẵn của phòng K Công an tỉnh L có ghi "Vật chứng còn lại sau trích mâu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Đào Quang S, Trần Văn T ngày 14/9/2024 tại thôn H, xã X, huyện B, tỉnh Lào Cai". Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
- - Tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) được niêm phong vào 03 phong bì khác nhau. Hiện đã chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai (Là tiền thu giữ của Trần Văn T 30.000đ, Anh Lê Hữu P 100.000đ và chị Lý Thị Bích 7) là số tiền do bị cáo Trần Văn T thực hiện hành vi phạm tội mà có. Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
3. Về án phí:
Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu phí, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Văn T, Đào Quang S mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử lưu động công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Báo cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Như Long |
Bản án số 48/2024/HS - ST ngày 07/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên phạt Trần Văn T 02 năm 03 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và phạt Đào Quang S 01 năm 06 tháng tù về tội TTTPCMT.
