Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CƯ JÚT

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HSST

Ngày: 05-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hồng và bà Trần Thị Hòa.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đăk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên tòa: Ông Nông Quốc Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04/12/2000 tại tỉnh Đăk Nông; Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn gáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Hoàng Văn H, sinh năm: 1975; Con bà: Vi Thị M, sinh năm: 1980; Bị cáo có vợ là Nông Thị Thu H1, sinh năm: 2001 và 01 con, sinh năm: 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

- Bị hại: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; (Có mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Quốc H2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; (Vắng mặt)
  2. Ông Hoàng Văn H, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; (Có mặt)
  3. Chị Nông Thị Thu H1, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/7/2024, Hoàng Văn V đi bộ từ nhà V ở thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông đến nhà chị Hoàng Thị T (là hàng xóm ở đối diện nhà V) để rủ Hoàng Tuấn D (con trai chị T) đi chơi. Khi sang đến nhà chị T, thấy cửa không khóa, không có người nên V hỏi "có ai ở nhà không", không thấy có người trả lời, V đi vào trong nhà rồi đi về phía sau đến phòng ngủ thì thấy D đang nằm ngủ. Thấy vậy, V đi về phía phòng khách để về nhà thì thấy 01 bao màu xanh (loại bao xác rắn) đựng hạt tiêu khô đã may miệng, biết chị T không ở nhà, D đang ngủ trong phòng và không còn ai khác trông coi nên V nảy sinh ý định trộm bao tiêu bán lấy tiền tiêu xài. V đi về nhà điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS): 47K9 - 5496, màu xanh đen đến dựng xe ở sân nhà chị T rồi đi vào vị trí dựng bao tiêu dùng hai tay kéo bao tiêu ra sân và bê lên yên xe. V điều khiển xe chở bao tiêu trộm cắp được chở đến cửa hàng thu mua nông sản của anh Nguyễn Quốc H2 ở thôn T, xã Đ, huyện C bán. Tại đây V và anh H2 cân bao tiêu có trọng lượng 71,8kg, bán được số tiền 11.400.000đ (mười một triệu bốn trăm ngàn đồng), anh H2 chuyển khoản cho V vào số tài khoản 0359228790, mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) số tiền 10.0 00.000đ (mười triệu đồng), trả tiền mặt 1.400.000đ (một triệu bốn trăm ngàn đồng). Số tiền 1.400.000đ (một triệu bốn trăm ngàn đồng) mà anh H2 trả bằng tiền mặt, V tiêu xài cá nhân hết. Số tiền anh H2 chuyển khoản, V đã chuyển khoản cho vợ là Nông Thị Thu H1 số tiền 1.600.000đ (một triệu sáu trăm ngàn đồng) và nộp tiền vào sim điện thoại số tiền 265.000đ (hai trăm sáu lăm ngàn đồng). Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, ngày 08/7/2024 V đã đến Cơ quan Công an đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.

Ngày 09/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 886, định giá giá trị tài sản là 71,8kg hạt tiêu khô đựng trong 01 bao xác rắn tại thời điểm bị chiếm đoạt.

Kết luận định giá tài sản số: 36/KL – HĐĐGTS, ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 bao xác rắn đựng hạt tiêu khô trọng lượng 71,8kg tại thời điểm chiếm đoạt ngày 06/7/2024 trị giá 11.847.000đ (mười một triệu tám trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).

Trong quá trình điều tra, truy tố Hoàng Văn V đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ; bị can đầu thú.

Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:

  • + 01 bao xác rắn màu xanh đựng hạt tiêu khô trọng lượng 71,8kg;
  • + 01 điện thoại di động (ĐTDĐ) nhãn hiệu Iphone, màu xám;
  • + 01 xe mô tô BKS: 47K9 - 5496, màu xanh đen;
  • + Số tiền 11.400.000đ (mười một triệu bốn trăm ngàn đồng).

Quá trình điều tra đã làm rõ: 01 bao xác rắn màu xanh đựng hạt tiêu khô trọng lượng 71,8kg là tài sản của chị Hoàng Thị T; 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone, màu xám là tài sản của Hoàng Văn V, không liên quan đến hành vi phạm tội; 01 xe mô tô BKS: 47K9 - 5496, màu xanh đen là tài sản của ông Hoàng Văn H (sinh năm: 1975, trú tại: Thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông, bố của V). Chiếc xe trên do ông Trần Đình T1, sinh năm: 1967, trú tại: Tổ dân phố E, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên đăng ký xe, ông H mua lại của ông T1 và sử dụng đến nay nhưng chưa làm thủ tục đăng ký sang tên xe. Ngày 06/7/2024 Hoàng Văn V sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nhưng ông H không biết. Số tiền 11.400.000đ (mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) là số tiền V giao nộp để trả lại cho anh Nguyễn Quốc H2.

Ngày 16/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra các Quyết định xử lý vật chứng, xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 546 và 547 trả lại: 01 bao xác rắn màu xanh đựng hạt tiêu khô trọng lượng 71,8kg cho chị Hoàng Thị T; trả số tiền 11.400.000đ (mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) cho anh Nguyễn Quốc H2 là các chủ sở hữu hợp pháp.

Ngày 05/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 684 trả lại: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone, màu xám cho Hoàng Văn V là chủ sở hữu hợp pháp; chuyển xe mô tô BKS: 47K9 - 5496, màu xanh đen đến Đội cảnh sát giao thông Công an huyện C để xử lý về lỗi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định.

Tại Cáo trạng số: 47/CT-VKS-CJ ngày 04/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút truy tố bị cáo Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 07 giờ 50 phút, ngày 06/7/2024, tại thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông; Hoàng Văn V đã có hành vi trộm cắp của chị Hoàng Thị T 01 bao xác rắn đựng hạt tiêu khô có trọng lượng 71,8kg trị giá 11.847.000đ (mười một triệu tám trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Hoàng Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo có thời gian 02 năm đi nghĩa vụ quân sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

  • - Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn V từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm (06) tháng.
  • * Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1, Điều 46; khoản 2, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra các quyết định xử lý vật chứng, xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả: 01 bao xác rắn màu xanh đựng hạt tiêu khô trọng lượng 71,8kg cho chị Hoàng Thị T; trả số tiền 11.400.000đ (mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) cho anh Nguyễn Quốc H2 và trả 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone, màu xám cho Hoàng Văn V là các chủ sở hữu hợp pháp; Chuyển xe mô tô BKS: 47K9 - 5496, màu xanh đen đến Đội cảnh sát giao thông Công an huyện C để xử lý về lỗi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và được bồi thường thêm số tiền 1.400.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Người có quyền lời, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc H2 đã nhận lại số tiền 11.400.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn V thừa nhận đã thực hiện toàn bộ hành vi đúng với hành vi cáo trạng đã truy tố và thống nhất với tội danh, điều luật, tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút đã đề nghị, không có ý kiến phản đối, kêu oan. Bị cáo không bào chữa và cũng không tranh luận gì thêm mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để bị cáo sớm được hòa nhập với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Biên bản mở niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hoàn toàn có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 07 giờ 50 phút, ngày 06/7/2024, tại thôn F, xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông Hoàng Văn V đã có hành vi trộm cắp của chị Hoàng Thị T 01 bao xác rắn đựng hạt tiêu khô có trọng lượng 71,8kg trị giá 11.847.000đ (mười một triệu tám trăm bốn mươi bảy ngàn đồng).

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm..."

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và năng lực hành vi, nhận thức được tài sản của người khác được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài, bị cáo đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý, trông coi tài sản của bị hại nên bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp bao tiêu để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Điều này thể hiện ý thức coi thường pháp luật, coi thường tài sản, công sức của người khác. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục bị cáo sống có ích, có ý thức tôn trọng pháp luật và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung cho toàn xã hội, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo có thời gian 02 năm đi nghĩa vụ quân sự. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ này để quyết định một mức hình phạt phù hợp, vừa bảo đảm tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, vừa thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, nhằm tạo cơ hội cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sống có ích cho xã hội và tuân thủ pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo Hoàng Văn V có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập, rèn luyện và tu dưỡng về đạo đức, lối sống để trở thành công dân có ích cho xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về nội dung khác:

Đối với anh Nguyễn Quốc H2 là người mua số hạt tiêu khô của Hoàng Văn V. Tuy nhiên anh H2 không biết đây là tài sản do V trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với ông Hoàng Văn H là chủ sở hữu xe mô tô BKS: 47K9 - 5496, ngày 06/7/2024 Hoàng Văn V sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội, ông H không biết, vì vậy không có căn cứ để xử lý.

Đối với chị Nông Thị Thu H1 là người được Hoàng Văn V chuyển khoản số tiền 1.600.000 đồng, nhưng do chị H1 không biết đây là số tiền V bán tài sản trộm cắp mà có, vì vậy không có căn cứ để xem xét, xử lý.

[9] Về vật chứng của vụ án: Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra các quyết định xử lý vật chứng, xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả: 01 bao xác rắn màu xanh đựng hạt tiêu khô trọng lượng 71,8kg cho chị Hoàng Thị T; trả số tiền 11.400.000đ (mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) cho anh Nguyễn Quốc H2 và trả 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone, màu xám cho Hoàng Văn V là các chủ sở hữu hợp pháp; Chuyển xe mô tô BKS: 47K9 - 5496, màu xanh đen đến Đội cảnh sát giao thông Công an huyện C để xử lý về lỗi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Xét những chứng cứ buộc tội bị cáo, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa đưa ra là phù hợp nên HĐXX cần xem xét khi quyết định mức hình phạt.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn V 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 05/11/2024.

    Giao bị cáo Hoàng Văn V cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Đăk Nông phối hợp cùng với gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1, Điều 46; khoản 2, Điều 47 BLHS; khoản 3, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Chấp nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện C ra các quyết định xử lý vật chứng, xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu trả: 01 bao xác rắn màu xanh đựng hạt tiêu khô trọng lượng 71,8kg cho chị Hoàng Thị T; trả số tiền 11.400.000đ (mười một triệu bốn trăm ngàn đồng) cho anh Nguyễn Quốc H2 và trả 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone, màu xám cho Hoàng Văn V là các chủ sở hữu hợp pháp; Chuyển xe mô tô BKS: 47K9 - 5496, màu xanh đen đến Đội cảnh sát giao thông Công an huyện C để xử lý về lỗi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Hoàng Văn V phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến mình trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông.
  • - Phòng PV06; PC10 CA tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Cư Jút;
  • - CA huyện Cư Jút;
  • - Chi cục THADS huyện Cư Jút;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QL & NV liên quan;
  • - Lưu hồ sơ; VP; BP-THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Tiến Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HSST ngày 05/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 48/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn V - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger