TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/DS-ST Ngày 27-9-2024 “V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Ngọc Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Vinh và ông Nguyễn Văn Dửng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng H2. Địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà N Hoàng Đạo T, Phường T, Quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H, chức vụ: Phó phòng G - Ngân hàng H2 - Chi nhánh Đ. Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 10/5/2024, trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:
Ngày 07/01/2015, Ngân hàng H2 (Cpbank Đ1 – Phòng G) (gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết vay vốn với bà Nguyễn Thị H1 (bị đơn) theo Hợp đồng cho vay số TG009/01 ngày 07/01/2015 vay với số tiền là 130.000.000 đồng; Hình thức cho vay đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; Lãi suất tiền vay là 0.8%/tháng; Lãi suất quá hạn là 17,25%; mục đích cho vay sửa chữ nhà ở, thời hạn trả gốc và lãi hàng tháng: Trả gốc 2.710.000 đồng/tháng và lãi 1.040.000 đồng/tháng.
Quá trình vay đến ngày 25/4/2024, bị đơn đã trả cho nguyên đơn 80.040.000 đồng tiền gốc và 24.960.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên đã quá thời hạn trả nợ, bị đơn vẫn chưa thanh toán số nợ gốc và lãi còn lại cho Ngân hàng và đã vi phạm hợp đồng nêu trên. Tính đến ngày 27/9/2024, bị đơn còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 79.041.072 đồng, trong đó tiền gốc là 49.960.000 đồng, tiền lãi là 29.081.072 đồng. Ngân hàng đã liên tục nhắc nhở, đôn đốc bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán nhưng bị đơn vẫn không thanh toán khoản vay trên cho Ngân hàng, do đó Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ trên sang nợ quá hạn.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 79.041.072 đồng, trong đó tiền gốc là 49.960.000 đồng, tiền lãi là 29.081.072 đồng và tiếp tục tính lãi cho đến khi bà H1 trả nợ xong cho Ngân hàng.
* Theo các bản tự khai bị đơn bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Về việc ký kết hợp đồng cũng như quá trình vay bà H1 thống nhất như người đại diện của nguyên đơn trình bày là đúng. Lý do cho đến nay bà H1 không trả nợ cho Ngân hàng vì hiện nay kinh tế đang khó khăn nên chưa có tiền trả nợ một lần cho Ngân hàng được. Vì vậy, bà H1 mong muốn Ngân hàng tạo điều kiện để cho bà H1 trả nợ cho Ngân hàng theo từng tháng và xin Ngân hàng giảm tiền lãi.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền vay theo Hợp đồng cho vay số TG009/01 ngày 07/01/2015 và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng cho đến khi trả xong nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn Ngân hàng H2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay số TG009/01 ngày 07/01/2015 nên đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do bị đơn cư trú tại Thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để thụ lý và xét xử vắng mặt các đương sự là đúng với quy định của pháp luật.
[2] Về nợ gốc: Căn cứ vào Hợp đồng cho vay số TG009/01 ngày 07/01/2015, thì bị đơn vay của nguyên đơn số tiền gốc là 130.000.000 đồng; Lãi suất tiền vay là 0.8%/tháng; Lãi suất quá hạn là 17,25%; mục đích cho vay sửa chữ nhà ở; thời hạn trả gốc và lãi hàng tháng: Trả gốc 2.710.000 đồng/tháng và lãi 1.040.000 đồng/tháng. Nội dung các bên thỏa thuận trong hợp đồng phù hợp với các quy định của pháp luật tại các Điều 91 và 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã trả cho nguyên đơn 80.040.000 đồng tiền gốc và 24.960.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên, đến ngày 08/01/2019 bị đơn không thực hiện đúng thời hạn và nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo Hợp đồng đã ký kết. Dư nợ tính đến ngày 27/9/2024 là 79.041.072 đồng, trong đó tiền gốc là 49.960.000 đồng, tiền lãi là 29.081.072 đồng. Việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn theo nội dung hợp đồng tín dụng đã xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nợ gốc.
[3] Về nợ lãi: Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Căn cứ tại Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa các bên là phù hợp với quy định của pháp luật. Theo đó tính đến ngày 27/9/2024 bị đơn phải trả cho nguyên đơn 29.081.072 đồng tiền lãi là có cơ sở nên cần chấp nhận. Đồng thời, bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ dư nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 144, 147, 227, 235, 244, 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 357, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 hướng dẫn Tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 cuả Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng H2.
- Buộc bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng H2 số tiền 79.041.072 đồng (Bảy mươi chín triệu, không trăm bốn mươi mốt nghìn, không trăm bảy mươi hai đồng). Trong đó, nợ gốc là 49.960.000 đồng (Bốn mươi chín triệu, chín trăm sáu mươi nghìn đồng) và nợ lãi tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 29.081.072 đồng (Hai mươi chín triệu, không trăm tám mươi mốt nghìn, không trăm bảy mươi hai đồng).
Kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay số TG009/01 ngày 07/01/2015.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 4.002.000 đồng (Bốn triệu không trăm lẻ hai nghìn đồng). Ngân hàng H2 không phải chịu án phí và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.134.000 đồng (Ba triệu một trăm ba mươi bốn nghìn đồng) theo biên lai số AA/2023/0006764 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Thị Ngọc Điệp |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng Hợp tác xã X - Nguyễn Thị H
