|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/DS-ST Ngày: 26- 9 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Cư
- Bà Trương Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Trần Phương Duy- Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 và 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân Hàng TMCP S
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Vũ Minh Q, chức vụ: Giám đốc Trung tâm xử lý nợ Ngân Hàng TMCP S; theo Giấy ủy quyền số: 1439/2024/GUQ-PC ngày 22/5/2024 của Tổng Giám đốc Ngân Hàng TMCP S
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Phạm Trường T –Chuyên viên thu hồi nợ và thanh lý tài sản; theo Giấy ủy quyền số: 1083/2024/UQ-TTXLN ngày 10/6/2024 của Giám đốc Trung tâm xử lý nợ;
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1992
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người đại diện của nguyên đơn vắng mặt; bị đơn có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 15/01/2024, tại bản tự khai, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S là ông Phạm Trường T trình bày:
Ngày 23/05/2023 Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Văn V có ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), theo đó ông V được sử dụng hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2.77%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 146.570.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông V chỉ thanh toán cho ngân hàng số tiền 96.937.000 đồng. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng nên ngày 05/12/2023 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 58.016.505 đồng sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 24/9/2024, ông V còn nợ 81.606.183 đồng, trong đó nợ gốc: 58.016.505 đồng, lãi quá hạn 23.589.678 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn V trình bày:
Ông được Ngân hàng TMCP S cấp thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng, khi mở thẻ bản thân ông không nắm rõ lãi suất là bao nhiêu nên ông chậm trả. Sau khi sử dụng thẻ ông chưa lần nào xài tiền trên hạn mức tín dụng nên nghĩ số nợ của mình đối với ngân hàng không nhiều. Tại phiên tòa ông xác định đã được ngân hàng thông báo số nợ, ông thống nhất về bản kê tính lãi của ngân hàng và thừa nhận hiện tại còn nợ ngân hàng 58.016.505 đồng. Tuy nhiên thu nhập hàng tháng của ông chỉ đủ trả tiền thuê nhà, nuôi con nhỏ và còn nợ mấy ngân hàng khác nên ông đề nghị ngân hàng cho ngưng tiền lãi, ông sẽ trả đủ tiền gốc 50.000.000 đồng trong vòng 24 tháng.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, 466 và 470 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Văn V phải trả cho Ngân hàng TMCP S 81.606.183 đồng, trong đó nợ gốc: 58.016.505 đồng, lãi quá hạn 23.589.678 đồng và khoản tiền lãi phát sinh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Nguyễn Văn V ở tổ dân phố P, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ngân hàng.
[3] Về nội dung:
Theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng) Ngân hàng TMCP S đã cấp cho ông Nguyễn Văn V được sử dụng thẻ tín dụng, số thẻ 472074-5147, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2.77%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện 4 lần giao dịch từ tháng 06 đến tháng 9/2023 với tổng số tiền là 146.570.000 đồng. Sau khi giao dịch, ông V chỉ mới thanh toán cho ngân hàng hai lần với số tiền 96.937.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng giữa các bên đảm bảo về nội dung và hình thức theo quy định của pháp luật, sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã không thực hiện đúng trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ theo quy định tại Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã thỏa thuận. Do ông V vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ ngày 05/12/2023 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu 58.016.505 đồng sang nợ quá hạn. Hiện tại ông V còn nợ ngân hàng 81.606.183 đồng, trong đó nợ gốc : 58.016.505 đồng, lãi quá hạn 23.589.678 đồng. Về phía ông V, ông thống nhất còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền trên nhưng ông đề nghị ngân hàng cho trả dần gốc, xin miễn giảm tiền lãi. Tuy nhiên đề nghị của ông V không được ngân hàng chấp nhận.
Do bên vay vi phạm cam kết mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng nên ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông V phải trả 81.606.183 đồng và tiền lãi phát sinh là có căn cứ theo quy định tại Điều 466, 470 Bộ luật dân sự; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Văn V phải chịu 4.080.000 đồng án phí dân sự.
[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 91và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn V phải trả cho Ngân hàng TMCP S 81.606.183 đồng (tám mươi mốt triệu sáu trăm lẻ sáu nghìn một trăm tám mươi ba đồng), trong đó nợ gốc: 58.016.505 đồng, lãi quá hạn 23.589.678 đồng.
Kể từ ngày 25/9/2024 ông Nguyễn Văn V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh theo các hợp đồng mà hai bên đã thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong nợ.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn V phải chịu 4.080.000 đồng (bốn triệu không trăm tám mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 1.520.620 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011809 ngày 05 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Bình Tân, thành phố H.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Bị đơn ông Nguyễn Văn V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của ngân hàng, buộc ông V phải trả nợ vay cho ngân hàng
