|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày: 23/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Bé Hai
2. Ông Phạm Phước Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Linh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tân – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Thị Như T, sinh ngày 12/01/1994; Giới tính: Nữ;
Nguyên quán: Đồng Tháp; Nơi thường trú: tổ B, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ học vấn: Đại học; Con ông: Trần Văn H, sinh năm : 1972 (Chết); Con bà: Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm: 1972; Chồng tên: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1990 (đã ly hôn); Con tên: Nguyễn Như Nghi Đ, sinh năm: 2017; Gia đình có 02 chị em, bị cáo con lớn trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang chấp hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Công ty Cổ phần G; Địa chỉ: Tòa nhà V, số H P, phường M, quận N, TP Hà Nội.
Hoạt động theo ủy quyền: Công ty cổ phần G – Chi nhánh S1; Địa chỉ: số A N, khóm T, phường A, Tp S, tỉnh Đồng Tháp – Địa điểm kinh doanh số 3 M - Công ty cổ phần G tiết kệm – Chi nhánh S1; Địa chỉ: Q, đường N, khóm M, TT M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo pháp luật là ông Phạm Hồng Q; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hồng Q là ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1997; Chức vụ: Nhân viên pháp chế; HKTT: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Địa chỉ liên hệ: Số A, đường số B, phường H, TP T, TP Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Tô Văn Q1, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Phạm Thủy T2, sinh năm 1997; Địa chỉ: ấp A, xã L, TX. D, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).
- Trương Văn H1, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp A, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 24/7/2022, ông Phạm Hồng Q tổng giám đốc Công ty cổ phần G ký hợp đồng lao động với Trần Thị Như T thời hạn từ 24/7/2022 đến 23/7/2023 làm việc tại Công ty cổ phần G-chi nhánh S1, địa chỉ số A, đường N, thuộc khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp với nhiệm vụ điều phối viên, kế toán trực tiếp quản lý và thu tiền của khách hàng nộp về công ty hàng ngày theo quy định.
Trong ngày 10/8/2022, T trực tiếp thu tiền từ các nhân viên giao hàng thông qua App quản lý đơn hàng tại kho ông B tồn với số tiền 153.930.000 đồng.Trong đó, T thu tiền mặt 107.249.000 đồng, thu thông qua chuyển khoản vào tài khoản cá nhân T là 26.700.000 đồng. Lợi dụng việc quản lý tiền T tự ý chiếm đoạt số tiền mặt là 46.681.000 đồng để trả nợ cho người tên T3 (không rõ địa chỉ), Sau đó, T hợp thức hóa việc lập biên bản bàn giao số tiền 153.930.000 đồng cho bảo vệ Tô Văn Q1 ký rồi chụp hình gửi về công ty để đối phó với Công ty, anh Q1 tin tưởng nên không kiểm đếm lại, T để tiền vào két sắt tại kho, Thủy khóa và niêm phong két sắt lại sau đó T về nhà, anh Q1 bảo vệ ngủ tại kho đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 11/8/2022, T đến làm việc thì anh Q1 ra về. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, anh Trương Văn H1 chức vụ quản lý vận hành và chị Phạm Thủy T2 đại diện cho Công ty đến kiểm tra két sắt thì vẫn còn niêm phong nguyên vẹn, T mở két sắt cho anh H1 và chị T2 kiểm tra thì bị thất thoát số tiền 46.681.000 đồng, T thừa nhận đã lấy số tiền trên để trả nợ cho chị T3 nên anh H1 tiến hành lập biên bản ghi nhận số tiền thất thoát, T hứa sẽ khắc phục trong thời
hạn 3 ngày nhưng T không thực hiện nên anh H1 làm đơn tố cáo hành vi của T đến Công an thị trấn M, huyện C, hồ sơ được chuyển đến Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền (Bút lục: 01-12 )
Về trách nhiệm dân sự: ông Phạm Hồng Q đã ủy quyền lại cho anh Nguyễn Hồng S chuyên viên pháp chế của Công ty tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Ông S yêu cầu T bồi thường số tiền 46.681.000 đồng. T đã bồi thường xong, ông S làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSHCL ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Trần Thị Như T về tội “Tham ô tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo T. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 38, 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Thị Như T với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Như T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã công bố, lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Thị Như T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 32/CT-VKSHCL ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của
bị cáo. Chính bị cáo Trần Thị Như T thực hiện, bị cáo Trần Thị Như T lợi dụng chức vụ điều phối viên, kế toán trực tiếp quản lý tiền của Công ty cổ phần G – chi nhánh S1, địa chỉ số A, đường N, thuộc khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đã chiếm đoạt số tiền 46.681.000 đồng vào ngày 10/8/2022 nhằm mục đích vụ lợi cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị Như T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự có quy định:
1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
...........
[3] Xét hành vi của bị cáo: Bị cáo Trần Thị Như T khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo T thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý nhằm chiếm đoạt tài sản của Công ty. Cho nên, bị cáo T còn phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công ty được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ Công ty, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là cần thiết nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại làm đơn
xin giảm nhẹ hình phạt; về nhân thân, bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn về kinh tế, bị cáo đang nuôi con còn nhỏ. Nên xem đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố đã được giải quyết xong. Ngoài ra, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Không có.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Thị Như T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh giữ quyết định truy tố đối với bị cáo T. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Như T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Như T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị Như T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trung Dũng |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
TRÍCH LỤC BẢN ÁN HÌNH SỰ
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đã xử bị cáo:
- Họ và tên: Trần Thị Như T, sinh ngày 12/01/1994; Giới tính: Nữ;
Nguyên quán: Đồng Tháp; Nơi thường trú: tổ B, ấp C, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kế toán; Trình độ học vấn: Đại học; Con ông: Trần Văn H, sinh năm : 1972 (Chết); Con bà: Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm: 1972; Chồng tên: Nguyễn Văn C, sinh năm: 1990 (đã ly hôn); Con tên: Nguyễn Như Nghi Đ, sinh năm: 2017; Gia đình có 02 chị em, bị cáo con lớn trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ; Tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang chấp hành biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
* Bị hại: Công ty Cổ phần G; Địa chỉ: Tòa nhà V, số H P, phường M, quận N, TP Hà Nội.
Hoạt động theo ủy quyền: Công ty cổ phần G – Chi nhánh S1; Địa chỉ: số A N, khóm T, phường A, Tp S, tỉnh Đồng Tháp – Địa điểm kinh doanh số 3 M - Công ty cổ phần G tiết kệm – Chi nhánh S1; Địa chỉ: Q, đường N, khóm M, TT M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo pháp luật là ông Phạm Hồng Q; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Hồng Q là ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1997; Chức vụ: Nhân viên pháp chế; HKTT: Thôn B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Địa chỉ liên hệ: Số A, đường số B, phường H, TP T, TP Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Tô Văn Q1, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Như T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Như T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trần Thị Như T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Hội thẩm nhân dân (đã ký) Trần Văn Bé H2 – P |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Huỳnh Trung D |
Để thi hành C, ngày 24 tháng 10 năm 2024 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH Thẩm phán Huỳnh Trung D |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
