|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khánh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Bắc
2. Ông Nguyễn Việt Hưng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nông Thị Lê Na - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện VKSND huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số 134/2024/TLST - HNGĐ, ngày 10/6/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thùy D, sinh năm 1989 (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: xóm F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Anh Đỗ Văn C, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn chị Lê Thùy D trình bày: Tôi kết hôn và chung sống với anh Đỗ Văn C vào năm 2011, có được tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Trước khi cưới chúng tôi có được tìm hiểu và đến với nhau tự nguyện. Sau ngày cưới tôi về nhà anh C ở ngay không mang theo tài sản gì ngoài đồ dùng cá nhân. Vợ chồng ở chung cùng mẹ anh C tại xóm F, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 nguyên nhân do anh C không tu trí làm ăn, thường xuyên chơi bời, rượu chè không chăm lo cho vợ con và gia đình. Tôi và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo anh C nhưng anh C không thay đổi. Vì vậy vợ chồng thường xuyên sảy ra mâu thuẫn cãi chửi nhau. Tôi và anh C đã sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh C.
Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung cháu tên Đỗ Gia B, sinh ngày 18/6/2012. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng nuôi con chung đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Tôi và anh C tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết Tòa án nhân dân huyện Đại Từ đã tiến hành báo gọi nhiều lần nhưng anh C không có mặt tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh tại gia đình anh C, bà Nông Thị H là mẹ đẻ anh Đỗ Văn C cung cấp thông tin như sau: Quá trình giải quyết vụ án những lần Tòa án tống đạt văn bản tố tụng gia đình đều thông báo cho anh C tuy nhiên anh C làm tự do, không cho gia đình biết địa chỉ cụ thể, anh C vẫn thường xuyên về nhà chơi xong lại đi ngay. Việc chị D làm đơn ly hôn anh C có biết nhưng anh C có trao đổi lại với bà H do công việc bận nên anh C không đến Tòa án được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bà Nông Thị H cho biết anh C và chị D kết hôn với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, sau khi cưới vợ chồng sinh sống cùng gia đình bà H tại xã P. Về mâu thuẫn vợ chồng giữa anh C và chị D theo bà H được biết là do anh C con trai bà không tu trí làm ăn, thường tụ tập bạn bè, chơi bời không quan tâm đến gia đình, chị D cùng gia đình đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh C không thay đổi nên chị D đã về nhà mẹ đẻ sinh sống từ đầu năm 2024 đến nay, chị D và anh C sống ly thân. Khi Tòa án tống đạt văn bản tố tụng, gia đình đều thông tin cho anh C nhưng anh C xác định không đến Tòa án để giải quyết. Về con chung: Anh C và chị D có 01 con chung cháu tên Đỗ Gia B, sinh ngày 18/6/2012. hiện nay cháu B đang ở cùng bà H. Bà H cho biết, anh C và chị D không có tài sản chung và không có nợ chung.
Quá trình giải quyết, Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên anh C vắng mặt không có lý do. Do đó vụ án không thể tiến hành hòa giải được nên phải đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đại diện Viện kiểm sát nhất trí và không ý kiến gì.
Về nội dung vụ án: Áp dụng các Điều 28, 143, 147, 227, 228 BLTTDS; Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- + Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thùy D được ly hôn với anh Đỗ Văn C.
- + Về con chung: Giao cho chị D được tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Gia B, sinh ngày 18.6.2012 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét do đương sự không đề nghị.
- Về quyền thăm nom con chung: Anh C được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng các con chung mà không ai được cản trở.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét do đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- + Về án phí: Chị D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến của đương sự, của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình tranh chấp về Ly hôn, nuôi con chung theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Đỗ Văn C có hộ khẩu thường trú tại xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên việc Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa anh C vắng mặt lần thứ hai không có lý do, chị D và đại diện Viện kiểm sát huyện Đ đề nghị xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử Quyết định xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa anh Đỗ Văn C và chị Lê Thùy D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục của địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân nhân xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên theo quy định pháp luật nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Phía chị D xác định nguyên nhân do anh C không tu trí làm ăn, thường xuyên tụ tập bạn bè, rượu chè, không quan tâm đến vợ con và gia đình nên vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn cãi chửi nhau. Chị D và anh C sống ly thân từ năm cuối năm 2023 đến nay không ai quan tâm đến ai. Chị D xác định không còn tình cảm vợ chồng kiên quyết xin ly hôn với anh C, Tòa án đã báo gọi nhiều lần nhưng anh C đều vắng mặt để giải quyết vụ án ly hôn với chị D.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó xét đề nghị xin ly hôn của chị D là có căn cứ cần áp dụng Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đề nghị của chị D, cho chị D được ly hôn với anh C là phù hợp.
[3]. Về con chung: Chị D và anh C đều xác định vợ chồng có 01 con chung là Đỗ Gia B, sinh ngày 18/6/2012. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị D có nguyện vọng nuôi con chung đến khi trưởng thành. Cháu Đỗ Gia B cũng có nguyện vọng được ở cùng với chị D. Vì vậy Hội đồng xét xử xét cần giao cho chị D trực tiếp nuôi con chung đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung: Anh C được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng các con chung.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[5]. Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách nhà nước.
[6]. Về quyền kháng cáo: Chị D và anh C được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của chị Lê Thùy D, cho chị D được ly hôn anh Lê Văn C1.
- Về con chung: Giao cho chị Lê Thùy D được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đỗ Gia B, sinh ngày 18.6.2012 cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về quyền thăm nom con chung: Anh C1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Do đương sự, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí. Chị D phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005448 ngày 10/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho chị D biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh C1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Khánh |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình
