|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 48/2024/DS-ST Ngày: 16/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Phẩm
- Ông Lê Thành Tam
- - Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST-DS, ngày 14 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trương Văn S, sinh năm 1965 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bị đơn: 2.1. Ông Dương Văn T, sinh năm 1973 (vắng mặt)
2.2. Bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1968 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 22/05/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Trương Văn S trình bày:
Nguyên vào ngày 11/3/2023 ông S có cho vợ chồng ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H vay số tiền 10.000.000 đồng, vài ngày sau ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H vay thêm 4.000.000 đồng, tổng cộng là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng), thời hạn vay là 01 tháng trả lại, cho vay không lãi suất, ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H có ký tên xác nhận nợ.
Đến thời hạn ông S đã nhiều lần đòi ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H trả lại tiền nhưng ông T và bà H cứ khất hẹn hết lần này đến lần khác. Nên vào tháng 12/2023 ông S có khởi kiện ông T và bà H, tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án ngày 11/01/2024 bà Nguyễn Ngọc H có viết tờ cam kết sẽ trả số tiền 14.000.000 đồng vào ngày 08/4/2024 nên ông S mới rút đơn khởi kiện. Sau khi ông S rút đơn khởi kiện, đến hạn ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H không thực hiện đúng như cam kết.
Vì vậy, nay ông S yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Trương Văn S số tiền là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng), không yêu cầu trả lãi.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn bà Nguyễn Ngọc H trình bày: Bà H thừa nhận ngày 11/3/2023 bà H và ông T có vay của ông S tổng số tiền là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng), do gia đình khó khăn nên đến nay ông T và bà H vẫn chưa trả cho ông S. Nay qua yêu khởi kiện của ông S, bà H và ông T đồng ý trả cho ông S số tiền là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo cho bị đơn ông Dương Văn T biết việc thụ lý vụ án cũng như yêu cầu của nguyên đơn. Nhưng bị đơn ông T không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại tất cả các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Các đương sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản là tranh chấp hợp đồng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại xã T, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn ông T đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông T là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Xét, nguyên đơn ông Trương Văn S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Trương Văn S số tiền là 14.000.000 đồng.
Xét thấy, nội dung giấy nợ ngày 11/3/2023 và tờ cam kết ngày 11/01/2024 thể hiện ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H có vay của ông Trương Văn S số tiền là 14.000.000 đồng, ông T và bà H có ký tên xác nhận nợ; tại phiên tòa bị đơn bà H cũng thừa nhận bà H và ông T còn nợ ông S số tiền là 14.000.000 đồng đến nay chưa trả, nay bà H và ông T đồng ý trả cho ông S số tiền là 14.000.000 đồng. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của ông S buộc bị đơn ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Trương Văn S số tiền là 14.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 463; 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 14.000.000 đồng x 5% = 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Văn S.
Buộc bị đơn ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H có nghĩa vụ liên đới trả cho nguyên đơn ông Trương Văn S số tiền là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Buộc bị đơn ông Dương Văn T và bà Nguyễn Ngọc H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
Nguyên đơn ông Trương Văn S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0005843, ngày 17/6/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
