|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/DS-ST Ngày: 11 - 9 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán, gửi giữ tài sản”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lắm
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Ngọc Anh
Bà Lê Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2023/TLST-DS, ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán, gửi giữ tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST - DS, ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm: 1981.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1954.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh Q.
Địa chỉ: Số E, khu V, phường C, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp F, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp F, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 16/6/2023 quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày: Vào cuối năm 2022 ông có hợp đồng bơm cát nền đường đi vào nhà cho ông Nguyễn Văn L, việc hợp đồng thoả thuận miệng, khối lượng cát bơm là 60 khối, đơn giá 250.000 đồng/khối, tổng số tiền là 15.000.000 đồng. Khi bơm cát xong thì ông và ông L không có làm biên nhận việc ông L nợ ông số tiền 15.000.000 đồng, nhưng có chính quyền địa phương là ông Nguyễn Thanh Q là trưởng ấp F, xã X, huyện L biết và có chứng kiến việc ông bơm cát cho ông L.
Ngoài ra khi thực hiện thi công công trình tuyến lộ bê tông ấp F C Trầu ông có mượn sân của ông L để đưa cát phục vụ cho công trình, khi nào xong công trình cần xài cát thì ông đến nhà ông L lấy cát. Số lượng cát ông gửi tại sân nhà ông L là 150m³, quá trình thi công công trình thì chỉ sử dụng khoảng 50m³, còn lại khoảng 100m³ chưa sử dụng. Sau đó ông đến để lấy lại 100m³ cát thì ông L không cho lấy, ông có báo ông Nguyễn Thanh Q là trưởng ấp F, xã X trực tiếp đến nhà ông L để hoà giải nhưng không thành, ông có gửi đơn đến ấp để hoà giải. Tại biên bản hoà giải ngày 15/6/2023 ông L yêu cầu trả lại mặt bằng hiện trạng như trước khi mượn sân cát. Tại thời điểm ngày 15/6/2023 thì trên sân ông L vẫn còn khoảng 100m³ cát nhưng hiện nay còn lại bao nhiêu thì ông không biết. Ngày 12/01/2024 Toà án có đến xác minh khối lượng cát trên sân là 63m³ thì ông thống nhất.
Nay ông yêu cầu ông L trả số tiền mua 60m³ cát là 15.000.000 đồng, số lượng cát còn lại trên sân ông L là 63m³ cát ông không có nhu cầu sử dụng ông đồng ý để cho ông L sử dụng ông yêu cầu ông L trả số tiền 250.000 đồng/m³, với số tiền là 15.750.000 đồng, tổng cộng là 30.750.000 đồng.
Quá trình thu thập chứng cứ và tại phiên toà bị đơn ông Nguyễn Văn L trình bày: Ông T là người thi công công trình bê tông ấp F, tuyến C, xã X, huyện L khi thực hiện công trình thì ông T yêu cầu ông cho múc đất để đắp ta luy chiều dài ngang cửa nhà ông khoảng 200m thì ông đồng ý với điều kiện là ông T phải bơm cát để làm đường đi vào nhà của ông chiều ngang 2,6m dài 15m, chỉ thoả thuận miệng nhưng ông T bơm không đủ số lượng cát. Ông không có mua của ông T 60m³ cát với số tiền 15.000.000 đồng nên ông không đồng ý theo yêu cầu của ông T.
Đối với phần cát ông T gửi trên sân thì ông có cho ông T gửi, khi gửi ông T có rào lưới cước xung quanh để giữ cát nhưng khối lượng bao nhiêu thì ông không biết do ông T không có nói với ông. Khi thực hiện công trình thì ông T đã lấy cát đi, phần còn lại đã phả bằng mặt sân. Toà án xác minh số lượng cát còn lại trên sân 63m³ là đúng. Ông đồng ý để cho ông T lấy lại số cát trên sân nhưng ông T phải mang đất trả lại hiện trạng ban đầu như trước khi ông T gửi.
Đối với người làm chứng ông Nguyễn Thanh Q có đơn xin vắng mặt nhưng ngày 12/01/2024 Toà án xác minh thì ông Q trình bày: Tuyến lộ bê tông nông thôn Cái Trầu là công trình do nhà nước và nhân dân cùng làm, trong đó người dân hiến đất và hoa màu để đắp ta luy, ông T là người thi công công trình này, toàn bộ công trình phần ta luy thì do ông T đắp, phần lộ đi ngang nhà ông L thì địa phương vận động ông L cho ông T múc đất để đắp ta luy, do thiếu đất nên ông L có cho ông T múc đất của ông L để đắp ta luy. Ông có biết việc ông T có hứa với ông L là cho ông T đắp ta luy thì ông T sẽ bơm cát cho ông L để làm đường đi vào nhà ông L, việc thoả thuận chỉ thoả thuận miệng còn đường đi vào nhà ngang dài bao nhiêu thì ông không biết nhưng thực tế ông T có bơm cát cho ông L và ông L đã làm xong.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay Thẩm phán được phân công đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự như: Xác định mối quan hệ tranh chấp, tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, gửi quyết định xét xử cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng đúng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo thủ tục quy định về phiên toà sơ thẩm. Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà đương sự đã thực hiện đúng các quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
3
Về nội dung:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 26/4/2024 Toà án nhân dân huyện Long Mỹ đã mở phiên toà xét xử vụ án, tại phiên toà ngày 26/4/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Thành T đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà vì ông cho rằng ông có đoạn ghi âm thể hiện ông Nguyễn Văn L thừa nhận còn nợ tiền cát của ông. Do đó Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên toà để thu thập thêm tài liệu chứng cứ. Hết thời hạn 01 tháng ông T chưa cung cấp đầy đủ chứng cứ nên ngày 27/5/2024 Toà án có Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án số 10/2024/QÐST-DS. Ngày 27/6/2024 ông T đã cung cấp đầy đủ tài liệu chứng cứ nên Toà án có Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 20/2024/QÐST-DS ngày 27/6/2024 là đúng theo quy định tại Điều 259 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán và gửi giữ tài sản theo quy định tại Điều 26, 35 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Nội dung vụ án:
Theo ông T trình bày vào năm 2022 ông có bán cho ông Nguyễn Văn L 60m³ cát, đơn giá 250.000 đồng/m³ với số tiền là 15.000.000 đồng nhưng ông L chưa thanh toán. Ngoài ra ông có gửi tại nhà ông L 63m³ cát hiện nay ông L không cho ông lấy số lượng cát này nên ông đồng ý để cho ông L sử dụng và yêu cầu ông L trả giá trị 250.000 đồng/m³, với số tiền là 15.750.000 đồng, cộng với số tiền ông L mua cát là 15.000.000 đồng tổng cộng là 30.750.000 đồng. Còn ông Nguyễn Văn L cho rằng không có mua của ông T 60m³ cát với số tiền 15.000.000 đồng nên ông không đồng ý theo yêu cầu của ông T. Đối với số lượng cát ông T gửi còn lại trên sân 63m³ thì ông đồng ý để ông T lấy đi nhưng phải trả lại hiện trạng ban đầu khi ông T gửi, ông không có nhu cầu sử dụng cát nên không đồng ý trả giá trị cho ông T.
[4] Qua thẩm vấn công khai tại phiên tòa cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
4
Đối với 60m³ cát ông T cho rằng có hợp đồng với ông L bơm cho ông L 60m³ để làm đường đi vào nhà ông L, việc bơm cát chỉ thoả thuận miệng trong khi ông L không thừa nhận có mua cát của ông T việc ông T bơm cát để ông L làm đường đi vào nhà ông L là thoả thuận giữa các bên cụ thể: Ông L cho ông T múc đất để đắp ta tuy làm lộ bê tông ngang nhà ông L vì ông T là người thi công tuyến đường này đổi lại ông T phải đổ cát để ông L làm đường đi vào nhà. Ông T trình bày khi ông bơm cát để ông L làm đường đi vào nhà thì có ông Nguyễn Thanh Q trưởng ấp F, xã X chứng kiến. Tại biên bản xác minh ngày 12/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Long Mỹ thì ông Nguyễn Thanh Q trình bày: Tuyến lộ bê tông nông thôn Cái Trầu là công trình do nhà nước và nhân dân cùng làm, trong đó người dân hiến đất và hoa màu để đắp ta luy, ông T là người thi công công trình này, toàn bộ công trình phần ta luy thì do ông T đắp, phần lộ đi ngang nhà ông L thì địa phương vận động ông L cho ông T múc đất để đắp ta luy, do thiếu đất nên ông L có cho ông T múc đất của ông L để đắp ta luy. Ông có biết việc ông T có hứa với ông L là cho ông T đắp ta luy thì ông T sẽ bơm cát cho ông L để làm đường đi vào nhà ông L, việc thoả thuận chỉ thoả thuận miệng còn đường đi vào nhà ngang dài bao nhiêu thì ông không biết nhưng thực tế ông T có bơm cát cho ông L và ông L đã làm xong. Như vậy lời trình bày của ông L và ông Q là phù hợp.
[5] Sau khi tạm ngừng phiên toà ông T có cung cấp đoạn ghi âm cho rằng ông L thừa nhận còn nợ 60m³ với số tiền 15.000.000 đồng. Ngày 02/8/2024 Toà án đã công khai chứng cứ và cho các bên nghe đoạn ghi âm giữa ông T và ông L thì ông L thừa nhận có nói câu “không ai đo sao biết đường trả”. Qua thẩm vấn tại phiên toà thì ông T bơm cho ông L 02 phần cát, 01 phần ông L làm chái nhà và 01 phần làm đường đi vào nhà ông L. Ông T thừa nhận phần cát bơm vào chái nhà số tiền 5.750.000 đồng ông L đã trả xong còn phần cát bơm vào đường đi nhà ông L ông L thừa nhận còn nợ như trong đoạn ghi âm “không ai đo sao biết đường trả”. Bị đơn ông L thừa nhận có nói câu “không ai đo sao biết đường trả” là phần cát bơm vào làm chái nhà ông, thời điểm ông nói câu “không ai đo sao biết đường trả” thì ông T chưa tính tiền cát là bao nhiêu, sau đó ông Tốt T1 lại thì
5
số tiền cát là 5.750.000 đồng nên ông đã trả số tiền cát nêu trên cho ông T và ông T cũng thừa nhận có nhận số tiền 5.750.000 đồng của ông L. Ông L cho rằng ông L nói câu “không ai đo sao biết đường trả” là phần cát ông bơm vào làm đường đi nhà ông L, nhưng đoạn ghi âm không xác định được phần tiền ông L nợ ông T là phần tiền cát bơm vào chái nhà ông L hay bơm làm đường đi nhà ông L.
[6] Hội đồng xét xử có cơ sở xác định khi ông T thực hiện tuyến lộ bê tông nông thôn C, ấp F, xã X thì ông L cho ông T múc đất để đắp ta luy đổi lại ông T sẽ bơm cát cho ông L để ông L làm đường đi vào nhà và sự thoả thuận của các bên đã thực hiện xong. Ông T cho rằng ông L mua 60m³ cát với số tiền 15.000.000 đồng nhưng không có gì chứng minh ông L còn nợ 15.000.000 đồng nên yêu cầu của ông là không có căn cứ chấp nhận.
[7] Đối với khối lượng cát ông T gửi trên sân nhà ông L: Các bên đều thừa nhận khi thực hiện công trình lộ bê tông nông thôn tuyến Cái Trầu, ấp F, xã X thì ông T có gửi cát trên sân nhà ông L nhưng không xác định được số lượng cát bao nhiêu. Quá trình thi công công trình thì ông T đã sử dụng một phần, ông L trình bày khi ông T cho xe đến chở cát thì làm lún mặt sân đất, vì tại thời điểm ông T lấy cát thì ông T có rào lưới cước để giữ cát, sau đó do trời mưa nên số cát bị tràn ra sân độ cao bằng với thời điểm ông T gửi cát. Ngày 12/01/2024 Toà án đã xác minh thì ông T và ông L thống nhất số lượng cát còn lại là 63m³, ông T trình bày công trình đã thi công xong, ông không có nhu cầu sử dụng và đồng ý để ông L sử dụng và yêu cầu ông L trả giá trị với số tiền 15.750.000 đồng còn ông L không đồng ý vì không có nhu cầu sử dụng. Hội đồng xét xử nhận thấy việc ông T gửi cát tại nhà ông L thì ông L không có nhận thù lao gì đối với ông T, khi không sử dụng hết thì ông T có nghĩa vụ lấy về, ông L không có nhu cầu sử dụng thì không thể buộc ông L trả giá trị cho ông T.
[8] Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của ông T là không có căn cứ chấp nhận.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự: Ông Nguyễn Thành T phải chịu theo quy định.
6
QUYẾT ĐỊNH:
[11] Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ: Điều 430, 554, 556, 558. Bộ luật dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn L trả số tiền mua cát còn nợ là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) và yêu cầu trả giá trị cát số tiền là 15.750.000 đồng (mười lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Về án phí dân sự:
Ông Nguyễn Thành T phải chịu 1.537.500 đồng (một triệu năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) ông T đã nộp tạm ứng trước 1.000.000 đồng, ông T còn phải nộp thêm 537.5000 đồng (năm trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn ông Nguyễn Thành T, bị đơn ông Nguyễn Văn L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 11/9/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lắm |
7
8
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán, gửi giữ tài sản
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán, gửi giữ tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông t yêu cầu ông l trả lại tài sản
