Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HẢI CHÂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27/8/2024

V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Tùng và ông Phạm Công Lương.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  • - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thu Hiếu.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phạm Hùng N, sinh năm: 1994; Địa chỉ: K H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc L, sinh năm: 1995; Địa chỉ: K H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Hùng N và bà Trần Thị Ngọc L kết hôn vào năm 2019, đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại K H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không hợp về tính tình, quan điểm sống dẫn đến tranh cãi thường xuyên. Bà L nợ nhiều người. Các khoản nợ ông N đều không được biết. Từ tháng 11 năm 2023, bà L đã bỏ nhà đi, không rõ đi đâu. Nay, ông N xác định mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, ông N mong muốn Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà L.

  • - Về con chung: Ông Phạm Hùng N xác định ông và bà L không có con chung.
  • - Về tài sản chung: Ông Phạm Hùng N xác định ông và bà L không có tài sản chung.
  • - Về nợ chung: Ông Phạm Hùng N xác định ông và bà L không có nợ chung.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải, tuy nhiên bà Trần Thị Ngọc L vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Kết quả xác minh tại tổ dân phố nơi ông N và bà L từng sống chung xác định, ông N và bà L có đăng ký hộ khẩu thường trú và chung sống tại K H, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, vợ chồng chung sống một thời gian thì bà L đi khỏi địa phương, đi đâu không rõ. Về tình trạng và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng thì tổ dân phố không nắm rõ.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt ở phiên tòa lần thứ hai nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của ông Phạm Hùng N đối với bà Trần Thị Ngọc L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 mà không có lý do, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung tranh chấp: Ông Phạm Hùng N và bà Trần Thị Ngọc L kết hôn với nhau năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3] Xét yêu cầu của ông N về quan hệ hôn nhân thì thấy: Quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, dẫn đến ông N và bà L phát sinh nhiều mâu thuẫn. Bà L đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 11 năm 2023, đi đâu không rõ. Vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải nhưng bà L vẫn không có mặt, không có ý chí muốn hàn gắn quan hệ. Xét thấy tình cảm vợ chồng cần phải vun đắp từ hai phía mới đảm bảo cuộc sống chung hạnh phúc, nhưng tình trạng hôn nhân giữa ông N và bà L đã mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông N là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về quan hệ con chung: Ông Phạm Hùng N xác định ông và bà L không có con chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Ông Phạm Hùng N xác định ông và bà L không có tài sản chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[6] Về nợ chung: Ông Phạm Hùng N xác định ông và bà L không có nợ chung nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm ông Phạm Hùng N phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hùng N về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với bà Trần Thị Ngọc L.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: ông Phạm Hùng N được ly hôn với bà Trần Thị Ngọc L.
  2. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng ông Phạm Hùng N phải chịu; được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí HNGĐ ông N đã nộp theo biên lai thu số 0000018 ngày 05/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
  3. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - UBND phường Thuận Phước (Số đk
  • 66, ngày 22/7/2019);
  • - Chi cục THADS quận Hải Châu
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hùng N về việc “Tranh chấp ly hôn” đối với bà Trần Thị Ngọc L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger