TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 48/2024/KDTM-ST Ngày 09-8-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc.
Các Hội Thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Ngọc Tiến;
- Ông Lưu Đức Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Phương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 80/2023/TLST-KDTM ngày 28 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-KDTM ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X (E); Địa chỉ trụ sở: Tầng H Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ chi nhánh: 4B T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Đặng Nguyễn Duy P, sinh năm 1988. (theo Giấy ủy quyền số số 222/GUQ/EIBLL ngày 20/12/2023) (có mặt)
- Bị đơn: Công ty TNHH S1; Địa chỉ trụ sở: 4 S, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty S1 là: Bà Lâm Thị Ngọc T, sinh năm 1987. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lâm Thị Ngọc T, sinh năm 1987; Địa chỉ thường trú: 84/1 G, Khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Ông Đặng Nguyễn Duy P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ phần X trình bày:
Ngày 28/12/2022, Công ty TNHH S1 ký kết với Ngân hàng TMCP X - Chi nhánh T1.HCM 01 Hợp đồng tín dụng số 2105-LAV-220112956, hạn mức vay 4.000.000.000đ; mục đích vay: bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh.
Căn cứ Hợp đồng tín dụng nói trên, Ngân hàng đã giải ngân và Công ty TNHH S1 đã nhận nợ với tổng số tiền vay là 3.998.659.500đ, chi tiết như sau:
Đơn vị tính: đồng
| Số khế ước | Số tiền giải ngân | Thời gian vay | Ngày giải ngân | Ngày đáo hạn | Lịch trả lãi | Lịch trả gốc |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 2105-LDS - 220000172 | 2.001.450.000 | 06 tháng | 30/12/2022 | 30/6/2023 | Ngày 10 hàng tháng | Cuối kỳ vào ngày 30/6/2023 |
| 2105-LDS - 230000003 | 1.997.209.500 | 06 tháng | 03/01/2023 | 03/7/2023 | Ngày 20 hàng tháng | Cuối kỳ vào ngày 03/7/2023 |
Theo đó:
Lãi suất cho vay: 10.6%/năm trong 03 tháng đầu, sau đó lãi suất cho vay bằng Lãi suất cơ sở do Ngân hàng công bố theo từng thời kỳ + 2,1%/năm. Chu kỳ thay đổi lãi suất: 03 tháng/lần.
Lãi suất quá hạn: 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, bà Lâm Thị Ngọc T (Giám đốc Công ty TNHH S1) đã thế chấp cho Ngân hàng các tài sản sau:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 117, tờ bản đồ số 47) địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 779223, số vào sổ cấp GCN: CH02462/006977/CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16/12/2013;
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 185, tờ bản đồ số 47) địa chỉ T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 989458, số vào sổ cấp GCN: CH01455/00509/12/CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 02/3/2012.
Các tài sản nêu trên đều đã được công chứng theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 220/2022/EIBHCM-PGDLL/ĐBTS công chứng tại Phòng C, tỉnh Tây Ninh, địa chỉ: H T, Phường B, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (số công chứng 9.071, quyển số 12/2022.TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/12/2022). Đăng ký giao dịch đảm bảo tại Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh T - Chi Nhánh C1 ngày 28/02/2022.
Trong quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty TNHH S1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thanh toán tiền lãi cho Ngân hàng kể từ ngày 10/6/2023 và không thanh toán nợ gốc đến hạn cho Ngân hàng tại ngày 30/6/2023 (đối với Khế ước 2105-LDS-220000172); không thanh toán nợ gốc đến hạn tại ngày 03/7/2023 (đối với K ước 2105- LDS-230000003).
Kể từ ngày đến hạn trả nợ gốc theo các kỳ hạn cho vay, khách hàng không trả hết số nợ gốc phải trả đúng hạn thì số nợ gốc không được trả đúng hạn bị chuyển sang nợ quá hạn.
Khế ước 2105-LDS-220000172 (dư nợ gốc: 2.001.450.000đ) đến hạn trả nợ gốc vào ngày 30/6/2023 và khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Từ 01/7/2023 toàn bộ dư nợ gốc 2.001.450.000₫ của khế ước 2105-LDS-220000172 bị chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn, nợ lãi trong hạn tính đến ngày 01/7/2023 là 31.080.051đ. Số tiền mà khách hàng đã trả kể từ ngày giải ngân cho đến ngày 09/8/2024 là 76.817.296đ tiền lãi, 0đ tiền gốc.
Khế ước 2105-LDS-230000003 (dư nợ gốc: 1.997.209.500đ) đến hạn trả nợ gốc vào ngày 03/7/2023 và khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Từ 04/7/2023 toàn bộ dư nợ gốc 1.997.209.500đ của khế ước 2105-LDS-230000003 bị chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng mức lãi suất quá hạn, nợ lãi trong hạn tính đến ngày 04/7/2023 là 44.732.020đ. Số tiền mà khách hàng đã trả kể từ ngày giải ngân cho đến ngày 09/8/2024 là 62.340.295đ tiền lãi, 0đ tiền gốc.
Tính đến ngày 09/8/2024, Công ty TNHH S1 còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 4.747.606.418đ, cụ thể:
- Khế ước nhận nợ số 2105-LDS-220000172:
- + Nợ gốc: 2.001.450.000₫
- + Nợ lãi trong hạn: 31.080.051₫
- + Nợ lãi quá hạn: 330.650.507₫
- + Nợ lãi chậm trả lãi: 3.742.215₫
- Tổng nợ: 2.366.922.773đ
- Khế ước nhận nợ số 2105-LDS-230000003:
- + Nợ gốc: 1.997.209.500₫
- + Nợ lãi trong hạn: 44.732.020₫
- + Nợ lãi quá hạn: 333.175.583₫
- + Nợ lãi chậm trả lãi: 5.566.542₫
Tổng nợ: 2.380.683.646₫
→ Tổng nợ 02 Khế ước: 4.747.606.418đ (Trong đó nợ gốc: 3.998.659.500đ, nợ lãi trong hạn: 75.812.071đ, nợ lãi quá hạn: 663.826.090đ, nợ lãi chậm trả lãi: 9.308.757₫)
Nay, nguyên đơn Ngân hàng TMCP X yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Yêu cầu Công Ty TNHH S1 trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 09/8/2024 là 4.747.606.418đ (Bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ sáu ngàn, bốn trăm mười tám đồng), trong đó: Nợ gốc là 3.998.659.500đ, Nợ lãi trong hạn là 75.812.071đ, Nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn là 9.308.757đ, Nợ lãi quá hạn là 663.826.090đ. Đồng thời, Công ty TNHH S1 phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh tho mức lãi suất được các bên thỏa thuận trong các hợp đồng cho đến khi trả hết khoản nợ cho Ngân hàng.
- Trong trường hợp Công Ty TNHH S1 không trả hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là:
- + Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 117, tờ bản đồ số 47) tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất số BQ 779223, số vào sổ cấp GCN: CH02462/006977/CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16/12/2013 thuộc sở hữu của bà Lâm Thị Ngọc T;
- + Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 185, tờ bản đồ số 47) địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 989458, số vào sổ cấp GCN: CH01455/00509/12/CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 02/3/2012 thuộc quyền sở hữu của bà Lâm Thị Ngọc T.
- Nếu giá trị các tài sản thế chấp nêu trên không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Công Ty TNHH S1 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.
*Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1: Vắng mặt.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Ngọc T, sinh năm 1987: Vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh trụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Xét, theo Đơn khởi kiện đề ngày 13/12/2023 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần X cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định đây là Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Xét, theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên đăng ký lần đầu ngày 01/6/2021 và đăng ký thay đổi lần thứ 3, ngày 13/10/2023 thì Công ty TNHH S1 có địa chỉ trụ sở tại 4 S, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
- Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự để nộp bản tự khai, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Ngọc T đều vắng mặt.
- Tại phiên tòa, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Ngọc T tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ Điều 227, 228 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc và nợ lãi của Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 ngày 30/12/2022:
[2.1.1] Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định:
Vào ngày 30/12/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần X (viết tắt là Ngân hàng) với Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 (viết tắt là Công ty) có ký với nhau Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 theo đó Ngân hàng đồng ý cho Công ty vay 4.000.000.000₫ (Bốn tỷ đồng) để bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh, thời hạn cho vay không quá 06 tháng và được quy định cụ thể tại Khế ước nhận nợ, lãi suất cho vay áp dụng cho từng lần giải ngân và được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, lãi suất do chậm trả tiền lãi là 10%/năm. Cùng ngày, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 2.001.450.000đ cho Công ty theo Khế ước nhận nợ số 2105-LDS-220000172, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 10,6%/năm áp dụng trong 03 tháng đầu và sau đó lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở + 2,1%/năm, thời hạn vay là 06 tháng tính từ ngày 30/12/2022 đến ngày 30/6/2023. Đến ngày 03/01/2023, Ngân hàng tiếp tục giải ngân số tiền 1.997.209.500đ cho Công ty theo Khế ước nhận nợ số 2105-LDS-230000003, lãi suất tại thời điểm giải ngân là 10,6%/năm áp dụng trong 03 tháng đầu và sau đó lãi suất cho vay bằng lãi suất cơ sở + 2,1%/năm, thời hạn vay là 06 tháng tính từ ngày 03/01/2022 đến ngày 03/7/2023. Theo thỏa thuận của các bên tại các Khế ước nhận nợ thì đối với khoản vay 2.001.450.000đ thì Công ty có nghĩa vụ trả tiền lãi vào ngày 10 hàng tháng và tiền gốc trả một lần vào ngày 30/6/2023, đối với khoản vay 1.997.209.500đ thì trả tiền lãi vào ngày 20 hàng tháng và tiền gốc trả một lần vào ngày 03/7/2023. Xét, Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 ngày 30/12/2022, Khế ước nhận nợ số 2105-LDS-220000172 ngày 30/12/2022 và Khế ước nhận nợ số 2105-LDS-230000003 ngày 03/01/2023 được ký giữa Ngân hàng TMCP X với Công ty TNHH S1 xuất phát từ sự tự nguyện, nội dung thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và các khế ước nhận nợ là không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên theo quy định tại Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự thì Hợp đồng và các Khế ước nhận nợ nêu trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
[2.1.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, kể từ ngày giải ngân cho đến ngày 09/8/2024 thì tổng số tiền lãi mà bị đơn đã trả cho nguyên đơn là 139.157.591₫ (Một trăm ba mươi chín triệu, một trăm năm mươi bảy ngàn, năm trăm chín mươi mốt đồng), trong đó tiền lãi đối với khế ước nhận nợ ngày 30/6/2023 là 76.817.296đ và tiền lãi đối với khế ước nhận nợ ngày 03/7/2023 là 62.340.295đ. Theo thỏa thuận thì bị đơn có nghĩa vụ trả tiền lãi hàng tháng cho nguyên đơn vào ngày 10 đối với Khế ước nhận nợ ngày 30/12/2022 và ngày 20 đối với Khế ước nhận nợ ngày 03/01/2023, tuy nhiên bị đơn đã không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết tại các Khế ước nhận nợ, nên từ ngày 01/7/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc của Khế ước nhận nợ ngày 30/12/2022 sang nợ quá hạn và đến ngày 04/7/2023 thì chuyển toàn bộ dư nợ gốc của Khế ước nhận nợ ngày 03/01/2023 sang nợ quá hạn. Tại thời điểm chuyển nợ gốc sang nợ quá hạn thì đối với Khế ước nhận nợ ngày 30/12/2022 bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền gốc là 2.001.450.000, tiền lãi trong hạn là 31.080.051đ, đối với Khế ước nhận nợ ngày 03/01/2023 bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền gốc là 1.997.209.500đ, tiền lãi trong hạn là 44.732.020đ. Do bị đơn vi phạm nội dung thỏa thuận tại khoản 8.2 Điều 8 Phụ lục của Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 ngày 30/12/2022 thì “...Thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho E đầy đủ và đúng hạn. Thực hiện đúng những thỏa thuận đã cam kết trong Hợp đồng, Hợp đồng bảo đảm, phụ lục hợp đồng, cam kết bảo lãnh, cam kết chuyển giao dịch, tăng cường giao dịch qua E, K ước nhận nợ, văn bản thỏa thuận, Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng, các cam kết, tài liệu khác kèm theo; ...” nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả nợ gốc và nợ lãi là có cơ sở, phù hợp sự thỏa thuận của các bên tại khoản 5.3 Điều 5 Phụ lục của Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 ngày 30/12/2022, phù hợp theo quy định tại Điều 95 Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010.
[2.1.3] Theo Điều 4 của Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 ngày 30/12/2022 quy định: “Lãi suất cho vay áp dụng cho từng lần giải ngân: theo quy định tại Khế ước nhận nợ. Lãi suất cho vay được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần đối với cho vay VNĐ. Lãi suất được điều chỉnh áp dụng cho toàn bộ dư nợ (tất cả các Khế ước nhận nợ) của Hợp đồng này. Lãi suất cho vay = (bằng) lãi suất cơ sở do E công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + (cộng) biên độ theo quy định của E. Lãi suất trên nợ gốc quá hạn chưa trả (“Lãi suất quá hạn”): 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất trên số tiền lãi chậm trả: 10%/năm”. Xét, mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng gồm lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn và lãi suất do chậm trả tiền lãi là phù hợp theo quy định tại Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Như vậy, tính đến ngày 09/8/2024 bị đơn còn nợ nguyên đơn 4.747.606.418₫ (Bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ sáu ngàn, bốn trăm mười tám đồng), trong đó:
- + Nợ gốc là 3.998.659.500₫
- + Nợ lãi trong hạn là 75.812.071₫.
- + Nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn là 9.308.757d.
- + Nợ lãi quá hạn là 663.826.090đ.
[2.2] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ:
[2.2.1] Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ đối với khoản vay 4.000.000.000đ (Bốn tỷ đồng) phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 ngày 30/12/2022 được ký giữa Ngân hàng với Công ty S1 thì bà Lâm Thị Ngọc T với tư cách cá nhân đã ký với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 220/2022/EIBHCM-PGDLL/ĐBTS ngày 28/12/2022 theo đó bà T đồng ý thế chấp cho Ngân hàng B (hai) bất động sản là Thửa đất số 117, Tờ bản đồ số 47, Diện tích 555,6m², Địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 779223, số vào sổ cấp GCN: CH02462/006977.CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16/12/2013 cho bà Lâm Thị Ngọc T; và Thửa đất số 185 (số cũ 2143), Tờ bản đồ số 47 (số cũ 08), Diện tích 2137,5m², Địa chỉ tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 989458, số vào sổ cấp GCN: CH01455/00509/12/CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 02/3/2012 cho bà Lâm Thị Ngọc T. Xét, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 220/2022/EIBHCM-PGDLL/ĐBTS ngày 28/12/2022 được công chứng tại Phòng C tỉnh Tây Ninh và được đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T – Chi nhánh C1. Nội dung thỏa thuận của các bên trong Hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, việc ký kết Hợp đồng xuất phát từ sự tự nguyện của các bên nên theo quy định tại Điều 117, 118, 119, 317, 318, 319 Bộ luật Dân sự; Điều 95 Luật Đất đai năm 2013; Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 thì Hợp đồng nêu trên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
[2.2.2] Theo điểm a, Khoản 1 Điều 8 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 220/2022/EIBHCM-PGDLL/ĐBTS ngày 28/12/2022 thì “1. Các trường hợp xử lý tài sản thế chấp: a) Bên được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo các Hợp đồng cấp tín dụng đã ký với E;”
Như vậy, việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn đã làm phát sinh nghĩa vụ của bên thế chấp được quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 8 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 220/2022/EIBHCM-PGDLL/ĐBTS ngày 28/12/2022, cụ thể “Khi xảy ra một trong các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều này Bên thế chấp đồng ý để E xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cam kết không có bất kỳ khiếu nại, tranh chấp, khiếu kiện hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào khác gây cản trở. Việc xử lý theo khoản 1 Điều này được hiểu là Eximbnak tự xử lý hoặc yêu cầu cơ quan chức năng xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận tại Hợp đồng này tại bất kỳ thời điểm nào do E quyết định và theo quy định của pháp luật.”
[2.2.3] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đề ngày 04/4/2024 thì hiện trạng của thửa đất số 185 (số cũ 2143), tờ bản đồ số 47 (số cũ 08) tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh được ghi nhận “trên đất có trồng cây ăn trái gồm cây mít, cây dừa, cây xoài, cây chuối; không có công trình xây dựng, nhà ở gắn liền với đất”.
[2.2.4] Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đề ngày 04/4/2024 thì hiện trạng của thửa đất số 117, tờ bản đồ số 47 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh được ghi nhận “thửa dất có trồng cây ăn trái, không có công trình xây dựng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Nhưng theo ông Phan Văn S, sn 1974, CMND: [...] cung cấp thì hiện trạng thửa đất trồng cây ăn trái này là của ông.”.
[2.2.5] Ngày 04/5/2024 Tòa án đã ban hành Quyết định số 25/2024/QĐ-CCTLCC yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của Thửa đất số 117, tờ bản đồ số 47 tại ấp T, xã T, huyện C. Theo nội dung của Công văn số 1076/UBND ngày 07/6/2024 của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh thì “Thửa đất số 117, tờ bản đồ số 47, diện tích 555.6m², tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số phát hành BQ 779223, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số CH02462 do UBND huyện C cấp ngày 16/12/2013 cho bà Lâm Thị Ngọc T đứng tên.”. Như vậy, có cơ sở xác định tại thời điểm Tòa án ghi nhận hiện trạng của thửa đất số 117, tờ bản đồ số 47 tại ấp T, xã T, huyện C thì bà Lâm Thị Ngọc T là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất này.
[2.2.6] Theo khoản 3 Điều 2 của Hợp đồng thế chấp thì “Toàn bộ hoa lợi, lợi tức, vật phụ, cây trồng, trang thiết bị kèm theo, vật kiến trúc, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựn thêm gắn liền với đất, hoặc tài sản khác có được từ việc khai thác, sử dụng tài sản và các quyền phát sinh từ tài sản bảo đảm cũng thuộc tài sản bảo đảm.” nên các cây ăn trái gồm cây mít, cây xoài, cây chuối trên thửa đất số 185 (số cũ 2143) và cây ăn trái trên thửa đất số 117 đều thuộc tài sản thế chấp.
Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu của Ngân hàng về việc được quyền xử lý toàn bộ tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Lâm Thị Ngọc T trong trường hợp Công ty không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là có cơ sở, phù hợp nội dung các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp, phù hợp theo quy định tại theo quy định tại Điều 299, 301, 320, 322, 323 Bộ luật Dân sự.
[2.2.7] Theo khoản 6.3 Điều 6 của Hợp đồng tín dụng số LAV 220112956/2105 ngày 30/12/2022 thì “...Nếu tiền thu được do xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ gốc và nợ lãi vay, lãi quá hạn, lãi trên số tiền lãi chậm trả, phí, bồi thường thiệt hại (nếu có),...của Khách hàng tại E thì Khách hàng và (hoặc) Bên bảo đảm (nếu có) tiếp tục nhận nợ phần còn thiếu...” nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết nợ trong trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 thì “...Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật...”; “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án. Trường hợp, các bên không có thỏa thuận về mức lãi suất nợ quá hạn thì mức lãi suất nợ quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn” nên yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 10/8/2024 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng là có cơ sở nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng khác: Căn cứ Điều 157 và 158 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, 158, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 117, 118, 119, 299, 301, 317, 318, 319, 320, 322, 323 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 91, 95 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Điều 95 của Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điều 4, Điều 5 và Điều 6 của Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đăng ký biện pháp bảo đảm;
- Căn cứ Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
- Căn cứ Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 09/8/2024 là 4.747.606.418đ (Bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ sáu ngàn, bốn trăm mười tám đồng) trong đó: Nợ gốc là 3.998.659.500đ, Nợ lãi trong hạn là 75.812.071đ, Nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn là 9.308.757đ, Nợ lãi quá hạn là 663.826.090₫
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng.
- Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 không trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại các tài sản thế chấp là:
- + Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 117, tờ bản đồ số 47) tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất số BQ 779223, số vào sổ cấp GCN: CH02462/006977.CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 16/12/2013 cho bà Lâm Thị Ngọc T, sinh năm 1987.
- + Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (thửa đất số 185, tờ bản đồ số 47) tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 989458, số vào sổ cấp GCN: CH01455/00509/12/CN.VP do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 02/3/2012 cho bà Lâm Thị Ngọc T, sinh năm 1987.
- Trường hợp tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi trả hết nợ.
- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 09/8/2024 là 4.747.606.418đ (Bốn tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, sáu trăm lẻ sáu ngàn, bốn trăm mười tám đồng) trong đó: Nợ gốc là 3.998.659.500đ, Nợ lãi trong hạn là 75.812.071đ, Nợ lãi do chậm trả lãi trong hạn là 9.308.757đ, Nợ lãi quá hạn là 663.826.090₫
- Về án phí sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 phải chịu số tiền là 112.747.606đ (Một trăm mười hai triệu, bảy trăm bốn mươi bảy ngàn, sáu trăm lẻ sáu đồng). Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X 56.063.593 (Năm mươi sáu triệu, không trăm sáu mươi ba ngàn, năm trăm chín mươi ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035775 ngày 27/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
- Về chi phí tố tụng khác: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S1 có nghĩa vụ hoàn trả 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X.
- Về quyền kháng cáo: Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảo Ngọc |
Bản án số 48/2024/KDTM-ST ngày 09/08/2024 của Tòa án Nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 48/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án Nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn
