|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 10/7/2024 Về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Danh Hùng
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Dũng và ông Nguyễn Thế Anh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Cao Thị Vân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên toà:
- Bà Hoàng Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự, thụ lý số: 385/2023/TLST - HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐST - HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Đoàn Hồng Q, sinh năm 1987
- Trú tại: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An – có mặt;
- Bị đơn: Chị Cao Thị K, sinh năm 1992
- Nơi ĐKHKTT: xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
- Nơi tạm trú: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An – có mặt.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: ông Trần Văn T, sinh năm 1986
- Nơi công tác: Công ty TNHH L.
- Địa chỉ: E L, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 11 năm 2023, được bổ sung tại các bản tự khai ngày 09 tháng 01 năm 2024, nguyên đơn anh Đoàn Hồng Q trình bày:
- Về tình cảm: anh Q và chị Cao Thị K đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/01/2020, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân có tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống tình cảm đến năm 2021 xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là không hợp tính cách của nhau nên trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã và thiếu tôn trọng nhau trong cuộc sống, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng. Đến tháng 5 năm 2023, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng. Nay anh Q xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh Q đề nghị Tòa án giải quyết cho anh Q được ly hôn với chị Cao Thị K.
- Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 và cháu Đoàn Kim N sinh ngày 2/9/2021. Nay Ly hôn anh Q có nguyện vọng xin được trực tiếp hai con và không yêu cầu chị Cao Thị K cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà bị đơn chị Cao Thị K trình bày:
- Về tình cảm: Chị Cao Thị K thống nhất như ý kiến trình bày anh Đoàn Hồng Q trình bày về thời gian, điều kiện đăng ký kết hôn. Chị K kết hôn với anh Q trên cơ sở có tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai ép buộc.Trong quá trình chung sống đến năm 2021, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, sống chung với nhau đến tháng 5 năm 2023 thì chị K không sống chung với anh Q nữa, vợ chồng sống ly thân cắt đứt mọi quan hệ tình cảm. Nay anh Q làm đơn xin ly hôn chị K xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
- Về con chung: Chị K thống nhất vợ chồng có 2 con chung như anh Q trình bày là Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 và cháu Đoàn Kim N sinh ngày 2/9/2021. Nay Ly hôn chị K có nguyện vọng xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Đoàn Hồng Q cấp dưỡng nuôi con cùng với chị K.
- Tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tiến hành đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Tòa án mở phiên tòa chưa đúng thời hạn chuẩn bị xét xử. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về đường lối giải quyết vụ án đề nghị Toà án áp dụng các điều điều 51, 55, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giải quyết cho anh Đoàn Hồng Q được ly hôn chị Cao Thị K; về con chung: giao con chung Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 cho anh Đoàn Hồng Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành; giao con chung Đoàn Kim Ngân sinh ngày 21/9/2021 cho chị Cao Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét; về tài sản chung không yêu cầu giải quyết; án phí: anh Đoàn Hồng Q phải chịu án phí theo quy định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày quan điểm:
Căn cứ ý kiến của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đề nghị Tòa xem xét cho anh Q và chị K được ly hôn
Về việc nuôi dưỡng con chung: Nguyên đơn chị Cao Thị K có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung là chị Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 và cháu Đoàn Kim N sinh ngày 2/9/2021 là vô cùng chính đáng và nhân văn bởi chị K là mẹ, mang nặng đẻ đau, sinh mổ hai lần, sau đó lại gồng gánh sinh hoạt, điều đó là quá bất công, sau này khi vợ chồng mẫu thuẫn thì chị bị ép ra khỏi nhà mà chỉ được mang cháu ngân đi. Người mẹ luôn là người chăm sóc tốt nhất cho con thể hiện quá trình chị K chăm sóc con, yêu con, thường xuyên đưa đón con, cháu gái được chăm sóc, chị K tạo điều kiện cho anh Q thăm nom con cái.
Khi đang sống chung anh Q thu nhập bao nhiêu chị không biết, anh Q phó thác nuôi con cho ông bà nội, cho thấy tình cảm của anh Q với các con hời hợt, không quan tâm con cái, gia đình anh Q bố mẹ đã già, mẹ bị bệnh nên môi trường sống của cháu T1 chưa đảm bảo. Việc anh Q chia cắt các con với mẹ thể hiện anh Q cấm chị K mang cháu Đoàn Văn T1 đi làm ảnh hưởng đến tình cảm mẹ con và điều kiện phát triển của các con.
Do đó, căn cứ Điều 15, 17 Luật trẻ em, điều 36 Hiến pháp, điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình cho thấy việc giao cho chị K được quyền nuôi hai con là phù hợp thực tế nên đề nghị HĐXX cân nhắc yêu cầu chị K và chấp nhận.
Các nội dung khác trong vụ án Luật sư không có ý kiến.
Về hồ sơ: đề nghị xác minh, bổ sung thêm tài liệu: Lập biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Đoàn Văn T1 về việc ở với ai, nguyện vọng ở với anh em ruột; điều tra xác minh việc có hay không hành vi bạo lực gia đình, có hay không hành vi đuổi chị K ra khỏi nhà, ngăn cản đón con, xác minh hoàn cảnh gia đình của anh Q và làm rõ thu nhập anh Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[I]. Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Bị đơn chị Cao Thị K có đăng ký hộ khẩu tại xã D, huyện D, hiện đang tạm trú tại xóm B, xã D, huyện D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về yêu cầu người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp tham gia tố tụng của bị đơn chị Cao Thị K: Trước khi mở phiên toà, bị đơn chị Cao Thị K có đơn yêu cầu ông Trần Văn T làm người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp gửi kèm các tài liệu, giấy tờ đảm bảo các điều kiện và thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ các điều 72, 75 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án chấp nhận yêu cầu này.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K là hoàn toàn hợp pháp, việc đăng ký kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc giữa anh Q và chị K đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính cách, thiếu sự hòa hợp nên dẫn đến tình cảm phai nhạt. Vợ chồng đã được gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không thành cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh Q và chị K đã thực sự không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Cao Thị K và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của chị K cho rằng có hành vi bạo lực gia đình nhưng không cung cấp được các tài liệu chứng cứ, mặt khác quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận trên thực tế vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn và hai vợ chồng đã thống nhất ly hôn trước khi quyết định sống ly thân, chị K đồng ý ly hôn với anh Q, đây là vấn đề không cần phải chứng minh nên cần áp dụng Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K.
[2.2]. Về con chung: Anh Q và chị K thống nhất vợ chồng có hai con chung là Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 và cháu Đoàn Kim N sinh ngày 21/9/2021; hiện anh Q đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Văn T1, chị K đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đoàn Kim N. Cả anh Q và chị K đều có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành và không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Xét nguyện vọng của các đương sự, qua các tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, xác minh của Tòa án Hội đồng xét xử thấy rằng:
Anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K đều có địa chỉ cư trú rõ ràng, có nơi ở ổn định, cả hai đều làm nghề lao động tự do, có công việc và thu nhập kinh tế nên cả anh Q và chị K đều đủ các điều kiện cơ sở vật chất để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung nhưng việc nuôi dưỡng các con chung cần đảm bảo được nguyên tắc của Luật hôn nhân và gia đình, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần, xem xét đảm bảo cho các con chung có điều kiện sống ổn định như hiện nay.
Cháu Đoàn Văn T1 đang ở với bố và ông bà nội là tại xóm F, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, anh Q làm về cung cấp các dịch vụ nội thất, có thu nhập kinh tế ổn định, mức lương bình quân khoảng 10 triệu đồng/ tháng, hiện đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ của anh Q là ông Đoàn Văn Ấ và bà Võ Thị X, nhà ở của ông Đoàn Văn Á và bà Võ Thị X xây dựng khang trang, sạch sẽ, cháu T1 hiện đang học lớp 3 tuổi B trường mần non xã D, được bố và ông bà nội yêu thương, chăm sóc, điều kiện sinh hoạt và học tập đầy đủ nên cần tiếp tục giao cháu T1 cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Cháu Đoàn Kim N hiện đang sống cùng mẹ là Cao Thị K tại xóm B, xã D, chị K đã thực hiện các thủ tục đăng kí tạm trú tại chính quyền địa phương và cho cháu đi học tại trường mầm non xã D, chị K là nhân viên bán hàng, thu nhập ổn định, bình quân 5 triệu đồng/ tháng, có thời gian chăm sóc con, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của mẹ đẻ chị K; mặt khác cháu N hiện đang dưới 36 tháng tuổi nên cần giao cho mẹ đẻ là chị Cao Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Đoàn Văn Á và bà Võ Thị X để xác minh, làm rõ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Đoàn Văn T1 có xác nhận của chính quyền địa phương (UBND xã D); nguyên đơn anh Đoàn Hồng Q đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ về nơi cư trú, công việc, mức thu nhập, nơi học tập của con có xác nhận của trường học; hiện tại cháu Đoàn Văn T1 mới 04 tuổi 02 tháng không thuộc trường hợp phải xem xét nguyện vọng của con được quy định tại khoản 2 điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, yêu cầu thu thập tài liệu, chứng cứ về việc nuôi dưỡng con chung Đoàn Văn T1 của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn là không có căn cứ.
Do các đương sự đều không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K.
[2.3]. Về tài sản chung: không yêu cầu tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[2.4]. Án phí: Anh Đoàn Hồng Q phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, các điều 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ khoản 1 điều 51, điều 55; điều 57, điều 58, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Tuyên xử:
1. Quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K.
2. Về con chung:
Giao con chung Đoàn Văn T1, sinh ngày 10/5/2020 cho anh Đoàn Hồng Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Giao con chung Đoàn Kim N sinh ngày 21/9/2021 cho chị Cao Thị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi trưởng thành.
Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K.
Anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí: Anh Đoàn Hồng Q phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, án phí của của anh Q được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0011031 ngày 05/12/2023.
5. Về quyền kháng cáo: Anh Đoàn Hồng Q và chị Cao Thị K được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Danh Hùng |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
