Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải An.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Rạt
  2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Dương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Văn Q, 01/01/1976; Nơi sinh: tỉnh Long An.

Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1948 (sống) và bà Trần Thị N, sinh năm: 1953 (chết); bị cáo có vợ tên Lê Thị Kim B, sinh năm 1980, Con ruột: có 03 người, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2007; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2023 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt).

2/ Nguyễn Văn T, 10/10/1990; Nơi sinh: tỉnh Long An. Nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S1, sinh năm: 1952 (sống) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1950 (sống); bị cáo không có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày từ ngày 30/10/2023 tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt).

2

- Bị hại: Nguyễn Duy C, sinh năm 1955. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (xin vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (xin vắng mặt)
  2. Lê Thị T1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (xin vắng mặt)
  3. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. (có mặt)
  4. Lê Văn M1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 25/5/2023, Nguyễn Văn Q uống rượu chung với Nguyễn Văn T tại khu thổ mộ cách nhà ông Nguyễn Duy C khoảng 100m. Quê nhìn thấy nhà ông C không có người trông giữ và do không có tiền tiêu xài nên Q rủ T đi vào nhà ông C tìm tài sản chiếm đoạt bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, T đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày T và Q lén lút đột nhập vào nhà ông C, T và Quê tháo gỡ 01 camera nhãn hiệu KB Vision, model: KX-2003C4, màu trắng được lắp đặt trước nhà ông C, Q đem camera cất giấu tại khu thổ mộ nêu trên. Sau đó, T và Q chiếm đoạt tài sản của ông C để trên sân nhà gồm có: 01 bộ máy nén khí gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu VIHEM, màu xanh trắng, công suất 4.4HP; 01 máy cắt sắt gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu PHASE, màu xám trắng, công suất 2HP, T cùng Quê khiêng tài sản trên được khoảng 04-05 mét thì để lại, T đi đến nhà anh ruột của T là ông Nguyễn Văn T2 tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An mượn xe mô tô biển số 62H2-1650 có gắn 01 rơ móc (thùng lôi tự chế) phía sau của ông T2 đến chở tài sản chiếm đoạt được về nhà Quê cất giấu rồi điều khiển xe mô tô biển số 62H2-1650 có gắn rơ móc trả cho ông T2.

Ngày 27/5/2023, T dẫn ông Nguyễn Văn Đ đến nhà của Q bán 02 mô tơ điện gắn trên máy cắt sắt và máy nén cho ông Đ với giá 1.700.000 đồng, T chia cho Q 850.000 đồng, T giữ 850.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục mượn xe mô tô biển số 62H2-1650 có gắn rơ móc của ông T2 chở khung máy cắt sắt và khung máy nén đến tiệm mua sắt phế liệu của bà Lê Thị T1 tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bán cho bà T1 với giá 280.000 đồng, số tiền này T cùng Quê tiêu xài hết.

Ngày 30/6/2023, ông C phát hiện bị mất tài sản nêu trên nên đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An trình báo sự việc. Công an xã Đ mời T và Quê làm việc, tất cả khai nhận hành vi phạm tội. Công an xã Đ tiến hành thu giữ vật

3

chứng và bàn giao hồ sơ vụ việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Long An điều tra giải quyết.

Vật chứng tạm giữ gồm có: 01 camera nhãn hiệu KB Vision, model: KX-2003C4, màu trắng do Nguyễn Văn T giao nộp; 02 mô tơ điện gắn trên máy cắt sắt và máy nén do ông Nguyễn Văn Đ giao nộp; 01 khung máy cắt sắt và 01 khung máy nén do bà Lê Thị T1 giao nộp; 01 xe mô tô biển số 62H2-1650, số máy: CT100E1543174, số khung: không, 01 rơ móc không biển số, kích thước thùng là 80cm x 1,4m, cao 40cm, đoạn nối bằng kim loại hình tam giác đến xe mô tô là 64cm x 94cm x 1,4cm, do ông Nguyễn Văn T2 giao nộp; 01 đoạn camera ghi hình trích xuất ngày 25/5/2023 tại gia đình nhà ông Nguyễn Duy C có thời lượng 05 phút 30 giây, dung lượng 67MB do ông C giao nộp.

Quá trình điều tra xác định: Xe mô tô biển số 62H2-1650 có số máy P1P50FMG-015623, số khung PCG0021P-015623 do ông Lê Văn M1 đứng tên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; ông M1 đã bán xe này cho người không rõ họ tên vào năm 2020, việc mua bán không có làm giấy tờ; xe mô tô có số máy: CT100E1543174, số khung: không, xe không có người đứng tên đăng ký chủ quyền. Ông Nguyễn Văn T2 mua xe mô tô biển số 62H2-1650 có số máy: CT100E1543174, số khung: không của 01 người không rõ họ tên, địa chỉ với giá 1.500.000 đồng để sử dụng. Sau đó, ông T2 gắn thùng lôi tự chế phía sau để chở cỏ phục vụ chăn nuôi của gia đình và để xe trong khuôn viên nhà, ngày 25 và ngày 27/5/2023 T tự ý lấy xe này sử dụng và ông T2 không biết việc T lấy xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Tại Kết luận định giá tài sản số 133/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An kết luận như sau: 01 bộ máy nén khí gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu VIHEM, màu xanh trắng, công suất 4.4HP trị giá 1.567.000 đồng; 01 máy cắt sắt gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu PHASE, màu xám trắng, công suất 2HP trị giá 1.150.000 đồng; 01 camera nhãn hiệu KB Vision, model: KX-2003C4, màu trắng trị giá 320.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản nêu trên là 3.037.000 đồng (Thời điểm định giá ngày 25/5/2023).

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKSĐH ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại ông Nguyễn Duy C trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Ngày 25/5/2023, tại nhà ông thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, ông Nguyễn Duy C có bị trộm 01 bộ máy nén khí gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu VIHEM, màu xanh trắng, công suất 4.4HP; 01 máy cắt sắt gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu

4

PHASE, màu xám trắng, công suất 2HP. Nay ông Nguyễn Duy C đã nhận lại tài sản bị trộm nên không có yêu cầu gì khác trong vụ án, đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn Đ trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Ngày 27/5/2023, bị cáo T dẫn ông đến nhà của bị cáo Q bán 02 mô tơ điện gắn trên máy cắt sắt và máy nén với giá 1.700.000 đồng, ông không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Nay ông đã giao nộp lại 02 mô tơ điện gắn trên máy cắt sắt và máy nén, ông không có yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 1.700.000 đồng và không có yêu cầu gì khác trong vụ án, đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị T1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Ngày 27/5/2023, bị cáo T có chở khung máy cắt sắt và khung máy nén đến tiệm mua sắt phế liệu của bà tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An bán cho bà với giá 280.000 đồng, bà không biết đây là tài sản do trộm cắp mà có. Nay bà đã giao nộp lại khung máy cắt sắt và khung máy nén, bà không có yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền 280.000 đồng và không có yêu cầu gì khác trong vụ án, đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn T2 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Xe mô tô biển số 62H2-1650, có số máy: CT100E1543174, số khung: không là do ông mua của 01 người không rõ họ tên, địa chỉ với giá 1.500.000 đồng để sử dụng, có Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy do ông Lê Văn M1 đứng tên. Sau đó, ông gắn thùng lôi tự chế phía sau để chở cỏ phục vụ chăn nuôi của gia đình và để xe trong khuôn viên nhà, ngày 25 và ngày 27/5/2023 bị cáo T (là em ruột của ông) tự ý lấy xe này sử dụng và ông không biết việc T lấy xe làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Do xe có số khung, số máy không đúng với thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký xe máy và được tự chế thêm thùng lôi nên ông không yêu cầu nhận lại xe để tịch thu sung Ngân sách đối với xe này theo quy định, ông không có yêu cầu gì trong vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản":

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

5

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Về tang vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 bộ máy nén khí gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu VIHEM, màu xanh trắng, công suất 4.4HP; 01 máy cắt sắt gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu PHASE, màu xám trắng, công suất 2HP; 01 camera nhãn hiệu KB Vision, model: KX-2003C4, màu trắng là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Duy C bị trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Duy C theo biên bản trả tài sản ngày 09/11/2023 là phù hợp.

Đối với vật chứng 01 đoạn camera ghi hình trích xuất ngày 25/5/2023 tại gia đình nhà ông Nguyễn Duy C đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 xe mô tô biển số 62H2-1650, số máy: CT100E1543174, số khung: không, 01 rơ móc không biển số, kích thước thùng là 80cm x 1,4m, cao 40cm, đoạn nối bằng kim loại hình tam giác đến xe mô tô là 64cm x 94cm x 1,4cm: là tài sản của ông Nguyễn Văn T2, nhưng xe có số khung, số máy không đúng với thông tin về Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển số 62H2-1650; rơ móc không biển số nên đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Duy C đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, ông Nguyễn Văn Đ, bà Lê Thị T1 không có yêu cầu đối với số tiền đã giao cho các bị cáo, ông Nguyễn Văn T2 không có yêu cầu gì nên đề nghị không xem xét.

Đối với việc Nguyễn Văn T tự ý lấy xe mô tô biển số 62H2-1650 có gắn thùng lôi tự chế phía sau để chở các tài sản trộm cắp của ông Nguyễn Duy C đi cất giấu và đi bán, do ông Nguyễn Văn T2 không biết việc T lấy xe làm phương tiện thực hiện tội phạm nên hành vi của ông T2 không cấu thành tội phạm.

Đối với việc ông Nguyễn Văn Đ có hành vi mua 02 mô tơ điện gắn trên máy cắt sắt và máy nén, bà Lê Thị T1 có hành vi mua 01 khung máy cắt sắt, 01 khung máy nén do T bán, ông Đ, bà T1 không biết các tài sản nêu trên do T và Q phạm tội có được nên hành vi của ông Đ và bà T1 không cấu thành tội phạm có liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định

6

của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường cùng với Kết luận định giá tài sản số 133/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 25/5/2023, tại nhà ông Nguyễn Duy C thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Nguyễn Văn Q cùng với Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của ông C có tổng trị giá là 3.037.000 đồng, gồm có 01 bộ máy nén khí gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu VIHEM, màu xanh trắng, công suất 4.4HP trị giá 1.567.000 đồng; 01 máy cắt sắt gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu PHASE, màu xám trắng, công suất 2HP trị giá 1.150.000 đồng; 01 camera nhãn hiệu KB Vision, model: KX-2003C4, màu trắng trị giá 320.000 đồng. Sau đó, T bán 02 mô tơ điện gắn trên máy cắt sắt và máy nén cho ông Nguyễn Văn Đ với giá 1.700.000 đồng, T chia cho Q 850.000 đồng, T giữ 850.000 đồng và bán cho bà Lê Thị T1 01 khung máy cắt sắt, 01 khung máy nén với giá 280.000 đồng, các bị cáo chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà các bị cáo Q và T gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của ông Nguyễn Duy C, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương.

Khi thực hiện hành vi, các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

Hành vi của các bị cáo Q và T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.

7

Hành vi của các bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn và chưa có sự câu kết chặt chẽ, tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cần xem xét, phân tích vai trò của từng bị cáo trong vụ án. Bị cáo Q thực hiện tội phạm với vai trò người rủ rê, thực hành cùng với bị cáo T.

[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho các bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo Q và T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Q và điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T.

[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5]. Về tang vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đối với 01 bộ máy nén khí gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu VIHEM, màu xanh trắng, công suất 4.4HP; 01 máy cắt sắt gắn 01 mô tơ điện nhãn hiệu PHASE, màu xám trắng, công suất 2HP; 01 camera nhãn hiệu KB Vision, model: KX-2003C4, màu trắng là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Duy C bị trộm cắp, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Duy C theo biên bản trả tài sản ngày 09/11/2023 là phù hợp nên không xem xét.

Đối với vật chứng là 01 đoạn camera ghi hình trích xuất ngày 25/5/2023 tại gia đình nhà ông Nguyễn Duy C cần tịch thu tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với 01 xe mô tô biển số 62H2-1650, số máy: CT100E1543174, số khung: không, 01 rơ móc không biển số, kích thước thùng là 80cm x 1,4m, cao 40cm, đoạn nối bằng kim loại hình tam giác đến xe mô tô là 64cm x 94cm x 1,4cm: thấy rằng xe mô tô biển số 62H2-1650 có số máy P1P50FMG-015623, số khung PCG0021P-015623 do ông Lê Văn M1 đứng tên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy; ông M1 đã bán xe này cho người không rõ họ tên vào năm 2020, việc mua bán không có làm giấy tờ và ông M1 không có yêu cầu gì trong vụ án; xe mô tô có số máy: CT100E1543174, số khung: không, xe không có người đứng tên đăng ký chủ quyền; đây là tài sản của ông Nguyễn Văn T2, nhưng xe có số khung, số máy không đúng với thông tin về Giấy đăng ký xe mô tô, xe

8

máy biển số 62H2-1650; rơ móc không biển số, ông T2 không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Duy C đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự, ông Nguyễn Văn Đ và bà Lê Thị T1 không có yêu cầu đối với số tiền đã giao cho các bị cáo, ông Nguyễn Văn T2 không có yêu cầu gì trong vụ án nên không xem xét.

[7]. Đối với việc Nguyễn Văn T tự ý lấy xe mô tô biển số 62H2-1650 có gắn thùng lôi tự chế phía sau để chở các tài sản trộm cắp của ông Nguyễn Duy C đi cất giấu và đi bán, do ông Nguyễn Văn T2 không biết việc T lấy xe làm phương tiện thực hiện tội phạm nên hành vi của ông T2 không cấu thành tội phạm.

Đối với việc ông Nguyễn Văn Đ có hành vi mua 02 mô tơ điện gắn trên máy cắt sắt và máy nén, bà Lê Thị T1 có hành vi mua 01 khung máy cắt sắt, 01 khung máy nén do T bán, ông Đ, bà T1 không biết các tài sản nêu trên do T và Q phạm tội có được nên hành vi của ông Đ và bà T1 không cấu thành tội phạm có liên quan.

[8]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, 38 Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
  2. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự ; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 đoạn camera ghi hình trích xuất ngày 25/5/2023 tại gia đình nhà ông Nguyễn Duy C.
    • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển số 62H2-1650, số máy: CT100E1543174, số khung: không, 01 rơ móc không biển số, kích thước

9

thùng là 80cm x 1,4m, cao 40cm, đoạn nối bằng kim loại hình tam giác đến xe mô tô là 64cm x 94cm x 1,4cm.

Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 76-22/3/2024 ngày 22/3/2024.

  1. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
  2. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Công an huyện Đức Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện Đức Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hải An

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO T, Q "TRỘM CẮP TÀI SẢN"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger