Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 48/2023/DS-PT

Ngày 20-12-2023

V/v kiện đòi nợ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương

Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân và bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hải Bằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc: “kiện đòi nợ”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 86/2023/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Tạ Ngọc H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)
  • - Bị đơn: Bà Phan Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt).

Người kháng cáo: Ông Trần Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

* Nguyên đơn – anh Tạ Ngọc H trình bày:

Anh yêu cầu bà Phan Thị N trả lại cho anh số tiền bà N mua cá giống của anh còn nợ là 9.000.000đồng và không yêu cầu lãi, nội dung yêu cầu cụ thể như sau: Qua trao đổi với bà N thì bà N có nhờ anh mua hộ cá giống, cụ thể là cá đối mục và vào ngày 10/01/2023 anh có mang cá sang bán cho bà N 6000 con cá đối mục với giá là 2000đồng/con thành tiền là 12.000.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong thì cả bà N và ông T đều đồng ý mua cá của anh, anh đã giao đủ số cá trên cho ông T và bà N nhận đủ và anh trực tiếp nhìn thấy ông T và bà N thả túi cá 5000 con xuống ao nhà ông bà, còn 1000 con còn lại ông bà ấy có thả xuống ao hay không thì anh không biết. Khi thỏa thuận thì bà N bà sẽ trả hết số tiền mua cá là 12.000.000 đồng luôn nhưng sau khi thả cá xong thì bà N chỉ đưa 2.000.000 đồng và hứa hẹn đến tối 10/01/2023 sẽ chuyển nốt số tiền còn lại qua số tài khoản cho anh. Đến tối chưa thấy bà N chuyển khoản cho anh nên anh có gọi điện cho bà N nói tại sao không chuyển tiền trả cho anh thì bà N nói chưa lấy được tiền bán lợn nên chưa chuyển. Đến sáng ngày 11/01/2023 vẫn chưa thấy bà N chuyển tiền trả anh nên anh sang tận nhà bà N để đòi tiền, bà N mới trả cho anh được thêm 1.000.000 đồng và 02 bên thống nhất là viết giấy xác nhận nợ là còn anh là 9.000.000 đồng. Nội dung cơ bản của Giấy xác nhận nợ là anh đã đánh sẵn ở nhà còn phần tên bà N, địa chỉ của bà N và số tiền đã trả và số tiền nợ anh vẫn để trống, sau khi anh thống nhất với bà N xong thì anh mới điền đầy đủ thông tin vào giấy xác nhận nợ, bà N tự nguyện ký vào giấy xác nhận nợ. Tuy nhiên kể từ khi ký giấy xác nhận nợ đến nay, bà N và ông T vẫn chưa trả anh số tiền trên nên anh đề nghị Tòa án buộc bà N và ông T phải trả lại cho anh số tiền còn nợ lại do mua cá giống của anh là 9.000.000 đồng.

* Bị đơn – bà Phan Thị N trình bày:

Ngày 10/01/2023 anh H có chở sang nhà bà 15.000 con cá, anh H nói là cá đối mục nhưng do cá nhỏ hơn so với thỏa thuận nên ông T (chồng bà) có ra xem và bảo không lấy, bảo anh H chở cá về. Khi đó có bà, ông T, ông Trịnh Văn L người Nam Phú làm ao ở gần đây và anh H. Nhưng do cả nể nên bà bảo là lấy 6000 con, anh H giao cho 03 túi mỗi túi 2000 con, ông T ngần ngừ không muốn lấy nhưng cuối cùng cũng đồng ý thả. Sau khi thả cá thì ông T bảo không có tiền và hỏi bà là mẹ mày có tiền không thì bà bảo bà vừa bán được 2.000.000 đồng tiền mật ong và đem trả cho anh H tại quán của bà và anh H chở cá còn lại về. Anh H nói là bà sẽ trả số tiền còn lại vào tối 10/01/2023 là không đúng mà ông T chỉ nói là chú sẽ bắn vào số tài khoản để trả sau chứ không hề bảo là trả vào tối ngày 10/01/2023. Sau khi mua được cá thì đem đếm cho ông L 1000 con, còn 5000 con còn lại thì ông T đem thả xuống ao thì cá cứ nổi lên. Ngày 11/01/2023 anh H có sang nhà bà đòi tiền, bà có trả thêm cho anh H 1.000.000 đồng nữa, anh H có trao đổi với bà là 02 bên viết giấy xác nhận nợ và đưa cho bà giấy xác nhận nợ được viết sẵn một số nội dung trước, còn tên bà và số tiền đã trả và số tiền còn nợ lúc đó anh H mới điền vào và bà tự nguyện ký vào giấy xác nhận nợ số tiền 9.000.000 đồng. Khoảng 02 ngày sau thì anh H đã kiện bà ra xã. Đến nay anh H đòi bà số tiền 9.000.000đồng, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H vì: Khoảng 01 tháng sau khi thả cá thì ông T kéo cá lên không kéo được con nào, ao nhà bà khoảng 3 mẫu, còn cá nhà ông L kéo cá lên thì chỉ được khoảng 100 con cá đối mục còn lại là cá mương, nên anh H đã lừa đảo vợ chồng bà bán cá không đúng chủng loại, cá thả xuống ao chết nhiều không thu hoạch được mấy nên bà không đồng ý với yêu cầu của anh H, nay bà chỉ đồng ý trả thêm cho anh H 3.000.000 đồng nữa chứ không trả 9.000.000 đồng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Trần Văn T trình bày:

Ông hoàn toàn đồng ý với ý kiến của bà N trình bày và ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H, ông chỉ đồng ý trả thêm cho anh H 3.000.000 đồng vì anh H bán cá cho vợ chồng ông không đúng chủng loại không đúng chất lượng như đã thỏa thuận. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông không đồng ý thanh toán thêm cho anh H 01 đồng nào nữa. Vợ chồng ông mua cá đối mục giờ lại là cá mương, như vậy là anh H đã lừa vợ chồng ông. Thực chất là ngày 10/01/2023 ông không hề bảo anh H chở cá sang vì ngày 08/01/2023 ông có điện thoại cho anh H bảo có cá đối mực chuẩn không và nuôi cho ông được bằng đầu đũa ông mới lấy nhưng đến nay cá vớt lên không phải là như thỏa thuận.

- Người làm chứng - ông Trịnh Văn L trình bày:

Hiện ông đang làm đầm tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình, ông có làm công cho vợ chồng ông Trần Văn T và bà Phan Thị N. Khoảng đầu năm 2023 dương lịch ông T còn nợ tiền công của ông và ông T có trả tiền công cho ông bằng cách mua cho ông 1000 con cá giống loại cá đối mục giá trị là 2.000.000 đồng. Khi đó ông T có mua của anh H 6000 con, ông T lấy 5000 con và lấy cho ông 1000 con và ông đã thả xuống đầm nhà mình và khi thu hoạch được 150 con, quan điểm của ông là việc nuôi trồng thủy sản thì phải chịu rủi ro nên ông không có ý kiến gì. Khi lấy 1000 con cá giống thì giữa ông, ông T, bà N và anh H không thỏa thuận về việc thả 1000 con cá giống thì tỷ lệ thu hoạch phải là bao nhiêu.

Bản án số 14/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 147, điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 357, 440 và 468 Bộ luật dân sự, khoản 1 điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điêu 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tạ Ngọc H buộc bà Phan Thị N và ông Trần Văn T phải trả cho anh Tạ Ngọc H số tiền mua cá giống còn nợ 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) và không yêu cầu lãi suất.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/9/2023, ông Trần Văn T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T và bà N đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, anh H giữ nguyên quan điểm đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng; các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Trần Văn T làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, do đó được thụ lý và đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của ông T đối với bản án sơ thẩm thì thấy:

Việc mua bán và bàn giao cá giữa anh H và bà N, ông T là có thật, đã được hai bên và người làm chứng (ông Trịnh Văn L) xác nhận, do đó là tình tiết không phải chứng minh. Phía bà N ông T mới chỉ thanh toán cho anh H số tiền 3.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 9.000.000 đồng chưa thanh toán, dẫn đến việc anh H và bà N viết giấy xác nhận nợ. Khoản 1 Điều 441 Bộ luật dân sự quy định: “Bên bán chịu rủi ro đối với tài sản trước khi tài sản được giao cho bên mua, bên mua chịu rủi ro đối với tài sản kể từ thời điểm nhận tài sản, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Ở đây, anh H đã thực hiện xong nghĩa vụ giao cá, ông T bà N cũng đã thực hiện được một phần nghĩa vụ trả tiền (trả cho anh H hai lần, một lần 2.000.000 đồng và một lần 1.000.000 đồng và còn lấy 1000 con cá để trả cho ông Trịnh Văn L, đối trừ vào tiền công cho ông L), các bên không có thỏa thuận gì khác nên sau khi tiếp nhận cá, ông T bà N phải chịu rủi ro đối với lượng cá mình được giao. Ông T và bà N cho rằng anh H lừa đảo, giao cá không đúng chủng loại, chất lượng cá không đạt yêu cầu nhưng thời điểm nhận cá, ông T bà N không trả lại cá cho anh H mà cả nể nên vẫn nhận, một tháng sau kéo cá lên thì mới cho rằng anh H lừa đảo là không hợp lý. Mặt khác, bà N là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện ký giấy xác nhận nợ số tiền 9.000.000 đồng với anh H. Việc bà N cho rằng mình bị ép buộc là không có căn cứ. Nội dung thỏa thuận trong giấy xác nhận nợ không trái đạo đức xã hội, không vi phạm các quy định của pháp luật. Do đó giấy xác nhận nợ này có giá trị thực hiện trên thực tế và các bên phải có trách nhiệm thực hiện. Căn cứ vào Điều 279, 280, 440 và 441 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H. Anh H không yêu cầu tính lãi suất nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra giải quyết là phù hợp.

[2.5] Tại giai đoạn phúc thẩm, ông T không giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp. Từ những phân tích đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[3] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của ông T không được chấp nhận nên ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 24; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

I. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Cụ thể:

Căn cứ vào khoản 3 điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, điều 147, điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 357, 440 và 468 Bộ luật dân sự, khoản 1 điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điêu 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tạ Ngọc H buộc bà Phan Thị N và ông Trần Văn T phải trả cho anh Tạ Ngọc H số tiền mua cá giống còn nợ 9.000.000 đồng (chín triệu đồng) và không yêu cầu lãi suất.

“Kể từ bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người có nghĩa vụ không thanh toán số tiền trên thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án”.

2. Về án phí: Bà Phan Thị N phải chịu 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại anh Tạ Ngọc H số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà anh Tạ Ngọc H đã nộp theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0002345 ngày 28/3/2023.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thỉ hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật thì hành án dân sự”.

II. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Đối trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông T đã nộp tại Biên lai số 0002455 ngày 04/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, ông T đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 20/12/2023.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - Tòa án nhân dân; Viện kiểm sát nhân dân; Chi cục THADS huyện Tiền Hải;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2023/DS-PT ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về kiện đòi nợ

  • Số bản án: 48/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: kiện đòi nợ
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Ngọc H - Phan Thị N “kiện đòi nợ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger