|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày: 20-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hữu Bình;
2. Ông Hồ Đắc Minh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Vĩnh P, sinh năm 1987; nơi sinh: Tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: A, tổ B, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lương Minh T, con bà Lê Huỳnh Thanh T1; vợ tên Trần Thị Thanh T2; có 02 người con, sinh năm 2015 và năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Ông Đỗ Hà Mai T3, sinh năm 1949; địa chỉ thường trú: Khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt tại phiên tòa.
Bà Lê Thị Ngọc B, sinh năm 1951; địa chỉ thường trú: Khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt tại phiên tòa.
Chị Đỗ Lê Ngọc V, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương V có mối quan hệ họ hàng với ông Đỗ Hà Mai T3 và bà Lê Thị Ngọc B. P gọi ông T3, bà B là ông, bà. Ngày 10 tháng 8 năm 2019, P đến nhà ông T3, bà B tại khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương để chơi và tìm việc làm. Đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 16 tháng 8 năm 2019, do không có tiền tiêu xài và trả nợ nên P nảy sinh ý định lấy trộm 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, màu sơn xanh, bạc, đen có sẵn chìa khóa trên xe do bà chị Đỗ Lê Ngọc V (là con gái của ông T3, bà B) mua xe và trả góp vào ngày 22/7/2019. P lấy 01 tờ giấy “Đơn xin xác nhận hạnh kiểm” có sẵn trong ba lô, lật mặt giấy trắng phía sau ghi dòng chữ: “Gia đình rất tốt với con, con xin lỗi vì con kẹt quá, zô đường cùng nên con làm như vậy. Xin lỗi bé, hàng tháng P gửi tiền về đóng tiền ngân hàng cho. Con xin lỗi gia đình vì tất cả”, sau đó, P để tờ giấy này trong phòng ngủ của P. P lén lút vào phòng ngủ của ông T3, bà B để tìm tài sản trộm cắp. Khi vào, P nhìn thấy 01 tủ gỗ đựng quần áo, P mở 02 cánh tủ ra thì nhìn thấy bên trong có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng được buộc bằng dây thun chia thành nhiều xấp, P lấy 02 xấp tiền bỏ vào ba lô của mình. Sau đó, P để ba lô lên xe mô tô của bà V và đi về huyện N, tỉnh Đồng Nai. Tại huyện N, P lấy tiền ra đếm được 100.000.000 đồng, đồng thời P đăng lên trang facebook cá nhân của mình để bán xe mô tô. P bán xe mô tô cho 01 thanh niên (không xác định được nhân thân, lai lịch) với giá 25.000.000 đồng. P dùng số tiền vừa trộm được và tiền bán xe để trả nợ cho các chủ nợ bên ngoài xã hội (hiện nay không rõ nhân thân, lai lịch) hết số tiền 115.000.000 đồng, còn số tiền 10.000.000 đồng Phước tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, P bỏ đi khỏi địa phương và không xác định được nơi cư trú; Công an huyện D ban hành Thông báo truy tìm người số 723/TB-CSĐT ngày 05/10/2019, đến ngày 05/3/2024 thì tìm được P. Ngày 26/3/2024, P bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 79/LB-ĐTTH ngày 20/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Bình Dương.
Bản Kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐG ngày 19/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện D kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Winner, màu sơn xanh, bạc, đen chưa đăng ký biển số, số khung RLHKC3718KY000137, số mày KC34E-1005024 có trị giá 48.990.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt trong vụ án là 148.990.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-DT ngày 08/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định truy tố bị cáo Lương Vĩnh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Lương Vĩnh P như Cáo trạng số 49/CT-VKS-DT ngày 08/7/2024 và đề nghị:
Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lương Vĩnh P từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho ông T3, bà B và 70.000.000 đồng là giá trị xe cho bà V. Bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Winner, màu sơn xanh, bạc, đen chưa đăng ký biển số, số khung RLHKC3718KY000137, số máy KC34E-1005024. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã truy tìm nhưng không thu hồi được nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo Lương Vĩnh P tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Do bị cáo thiếu tiền nên bị chủ nợ, bị “xã hội đen” thúc ép nên mới trộm cắp tài sản của bị hại để trả nợ, bị cáo xin lỗi bị hại và gia đình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị hại chị V trình bày: Bị cáo đã trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại ông T3, bà B; bị cáo đã bồi thường cho chị V số tiền 70.000.000 đồng là giá trị xe mô tô hiệu Honda Winner cho chị V. Bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Điều tra viên, cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án. Do đó, toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lương Vĩnh P thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Ngày 10 tháng 8 năm 2019, tại khu phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Lương Vĩnh P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Honda Winner, màu sơn xanh, bạc, đen chưa đăng ký biển số, số khung RLHKC3718KY000137, số máy KC34E-1005024, có giá trị 48.990.000 đồng của chị Đỗ Lê Ngọc V và chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng của ông Đỗ Hà Mai T3 và bà Lê Thị Ngọc B. Tổng giá trị tài sản bị cáo Lương Vĩnh P
chiếm đoạt trong vụ án là 148.990.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, lời khai của bị hại cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, bản Cáo trạng số 49/CT-VKS-DT ngày 08/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố đối với bị cáo Lương Vĩnh P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[3] Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực hành vi, có đủ nhận thức để biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của người khác với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo Lương Vĩnh P là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản.
[4] Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trên địa bàn huyện D và cả nước nói chung nên cần phải xử lý thật nghiêm bằng hình phạt tù để bị cáo có điều kiện được giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như nhằm mục đích răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
[5.1] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đó là người phạm tội đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5.2] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.3] Xét thấy, trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu ở trên nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Lương Vĩnh P thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đã đề nghị.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã trả lại số tiền 100.000.000 đồng cho bị hại là ông T3 và bà B; đã trả cho bị hại chị V số tiền 70.000.000 đồng. Bị cáo và bị hại đã thoả thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, điều khoản truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Riêng về mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị
cáo là nghiêm khắc, Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị như đã nhận định ở trên.
[8] Bị cáo Lương Vĩnh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh, hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lương Vĩnh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lương Vĩnh P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 26/3/2024.
2. Trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lương Vĩnh P phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo:
4.1. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án (ngày 20/8/2024).
4. 2. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Trương Hữu Bình | Trần Văn Tùng |
| Hồ Đắc Minh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tùng |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Vĩnh P 173
