Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 48/2024/DS-ST

Ngày: 19/7/2024

V/v tranh chấp hợp

đồng tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Ông Lê Văn Qui

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần B; Địa chỉ: số B, đường T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Nam T, chức danh Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hữu T1, chức danh Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần B Chi nhánh H. Người đại diện tham gia tố tụng (nhận ủy quyền lại): Ông Quách Quang T2, chức danh Chuyên viên khách hàng cá nhân - Phòng G (Văn bản ủy quyền ngày 04/5/2024) (có mặt).

  2. Bị đơn:
    1. Ông Võ Vũ C, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp G, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)
    2. Bà Đỗ Thị Mộng K, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp G, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B (gọi tắt là Ngân hàng), người đại diện tham gia tố tụng ông Quách Quang T2 trình bày: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K có nghĩa vụ trả nợ, cụ thể như sau: Theo Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HDTD803202001253 ngày 03/7/2020 ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K vay số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất cho vay 10%/năm, lãi suất phạt quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, có điều chỉnh biến động lãi suất, thời hạn vay tối đa là 48 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 03/7/2024, mục đích vay vốn là nuôi baba. Tính đến ngày 19/7/2024 thì dư nợ của ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K tổng cộng là 25.788.158 đồng trong đó gốc là 16.687.893 đồng, lãi trong hạn là 6.935.278 đồng, lãi quá hạn là 2.164.987 đồng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Võ Vũ C1 và bà Đỗ Thị Mộng K trả toàn bộ các khoản nợ nêu trên và tiền lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn trả nợ theo hợp đồng tín dụng. Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
  2. [2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K.
  3. [3] Về nội dung:
    1. [3.1] Xét Hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ số HDTD803202001253 ngày 03/7/2020 thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp đồng với số tiền gốc là 50.000.000. Hợp đồng trên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, quá trình vay vốn bị đơn ông C, bà K có trả một phần vốn gốc. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn ông C, bà K trả nợ gốc tính đến ngày 19/7/2024 với số tiền 16.687.893 đồng là có căn cứ.
    2. [3.2] Về lãi suất: Theo thỏa thuận của các bên đã ký kết trong giao dịch tín dụng nêu trên thì lãi suất tại thời điểm cho vay là lãi suất cho vay 10%/năm, lãi suất phạt quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, có điều chỉnh biến động lãi suất. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết...”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông C, bà K trả lãi phát sinh tạm tính đến ngày 19/7/2024 cụ thể lãi trong hạn là 6.935.278 đồng, lãi quá hạn là 2.164.987 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.
    3. [4] Từ những phân tích nêu trên, buộc ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 19/7/2024 là 25.788.158 đồng trong đó gốc là 16.687.893 đồng, lãi trong hạn là 6.935.278 đồng, lãi quá hạn là 2.164.987 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ.
    4. [5] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K phải nộp theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B khởi kiện bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  2. [2] Buộc bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B tổng số tiền tính đến ngày 19/7/2024 là 25.788.158 đồng (Hai mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi tám nghìn, một trăm năm mươi tám đồng), trong đó gốc là 16.687.893 đồng (Mười sáu triệu, sáu trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi ba đồng), lãi trong hạn là 6.935.278 đồng (Sáu triệu, chín trăm ba mươi lăm nghìn, hai trăm bảy mươi tám đồng), lãi quá hạn là 2.164.987 đồng (Hai triệu, một trăm sáu mươi bốn nghìn, chín trăm tám mươi bảy đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/7/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

  3. [3] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K phải nộp số tiền 1.289.407 đồng (Một triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm lẻ bảy đồng).

    Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B (có người đại diện ủy quyền là ông Quách Quang T2) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 599.240 đồng (Năm trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm bốn mươi đồng) theo biên lai thu số 0007882 ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

  4. [4] Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. [5] Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần B có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/7/2024). Bị đơn ông Võ Vũ C và bà Đỗ Thị Mộng K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS TX Long Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 48/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger