Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H

TỈNH K

Bản án số: 48/2024/HS-ST.

Ngày: 18/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H -TỈNH K

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn N

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Y H và Bà Chu Thị V

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Trịnh Diệu L - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ H, tỉnh K

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Đăk Hà - tỉnh Kon Tum, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST - HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐHPT-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương Quốc L; tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04/4/2006 tại tỉnh K; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Nghề nghiệp: Học sinh; Nơi thường trú: Thôn I, xã I, huyện I, tỉnh K; Nơi ở hiện tại: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh K; Con ông: Trương Song T, sinh năm: 1982; Con bà: Bùi Linh Ngọc D, sinh năm: 1984; Em ruột: Trương Quốc H, sinh năm: 2011; Bị cáo chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Trương Quốc L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/05/2024 đến nay.

- Người bị hại: Bùi Văn S, sinh ngày 06/12/2006;

(Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Bùi Văn H1 (là bố đẻ của Bùi Văn S).

Cùng trú tại: TDP H, TT Đ, huyện Đ, tỉnh K.

(Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bùi Linh Ngọc D, sinh ngày 06/10/1984;
  2. Trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh K.

  3. Nguyễn Thị H2 và ông Bùi Văn H1;
  4. Cùng trú tại: TDP H, TT Đ, huyện Đ, tỉnh K.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Võ Ngọc Đ, sinh ngày 22/9/2006. Đại diện hợp pháp của người làm chứng: Bà Huỳnh Thị Thanh K (là mẹ của Võ Ngọc Đ).
  2. Cùng trú tại: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh K.

  3. Lê Đức T1, sinh ngày 24/11/2007. Đại diện hợp pháp của người làm chứng: Ông Lê Xuân N (là bố đẻ của Lê Đức T1).
  4. Cùng trú tại: Thôn L, TT Đ, huyện Đ, tỉnh K.

  5. Đoàn Thế Q, sinh ngày 22/6/2011. Đại diện hợp pháp của người làm chứng: Bà Nguyễn Thị B (là mẹ đẻ của Đoàn Thế Q).
  6. Cùng trú tại: TDP A, TT Đ, huyện Đ, tỉnh K.

Những người làm chứng đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/04/2024, Bùi Văn S (sinh năm 2006, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh K) và Lê Đức T1 (sinh năm 2007, trú tại thôn L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Ko) đang ngồi chơi tại khu vực sân huyện thuộc tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ. Lúc này, Võ Ngọc Đ (sinh năm 2006, trú tại thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh K) điều khiển xe mô tô chở Trương Quốc L đi ngang qua thấy S và T1 đang đứng nên L nói Đ điều khiển xe quay lại chỗ S. Sau khi xuống xe, bị cáo L đi lại gần S và hỏi S “mày nhìn gì tao”, S trả lời “tao nhìn vậy chứ nhìn gì mày đâu”, lúc này bị cáo L dùng tay phải tát một cái vào vùng mặt của S thì S lùi lên vỉa hè, bị cáo L đi lên vỉa hè theo S và rút dao (loại dao Thái Lan) từ trong túi quần đã mang theo trước đó đâm một nhát trúng vào vùng bụng bên trái của S. Sau khi bị đâm, S được Đoàn Thế Q (sinh ngày 22/6/2011; trú tại: Tổ dân phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh K) chở lên Trung tâm Y tế huyện Đ sơ cứu và băng bó vết thương, sau đó S được chuyển xuống Bệnh viện Đa khoa tỉnh K để điều trị. Sau khi bị cáo L dùng dao đâm S gây thương tích, Đ điều khiển xe chở bị cáo L lên Trung tâm y tế huyện Đ để xem tình hình thương tích của S rồi sau đó Đ chở bị cáo L đi về, trên đường về tới đoạn đường dốc đầu lâu thuộc thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh K thì L đã vứt con dao thái lan. Ngày 02/5/2024, ông Bùi Văn H1 (là bố của Bùi Văn S) viết đơn trình báo gửi đến Công an thị trấn Đ. Ngày 24/4/2024 Công an thị trấn Đ chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 75/KLTTCT-TTPY ngày 09/05/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh K kết luận đối với Bùi Văn S:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • Sẹo hạ sườn bên trái kích thước nhỏ.
    • Sẹo mạng mỡ bên phải (dẫn lưu) kích thước nhỏ.
    • Sẹo dưới rốn (vết mổ cấp cứu) kích thước nhỏ.
    • Sẹo mạng mỡ trái (vết mổ cấp cứu) kích thước nhỏ.
    • Mổ thăm dò ổ bụng bằng nội soi.
    • Tổn thương phúc mạc Thông tư không quy định xếp tỷ lệ.
  2. Kết luận: Căn cứ Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là: 12% (Viết bằng chữ: Mười hai phần trăm).
  3. Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh K.

Tại bản cáo trạng số 38/ CT-VKSĐH ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H, tỉnh K đã truy tố bị cáo Trương Quốc L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, với tình tiết quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

* Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát: 82X1-003.97. Quá trình điều tra xác minh, xác định chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát: 82X1-003.97 giấy tờ đăng ký xe mang tên Trương Quốc L. Ngày 21/6/2024, bị cáo L có đơn xin nhận lại tài sản. Ngày 02/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe mô tô cho bị cáo Trương Quốc L để tiếp tục quản lý, sử dụng.

- 01 (một) con dao thái lan trên đường về L đã vứt dọc đường đoạn thuộc thôn C, xã H. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.

* Về dân sự: Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo Trương Quốc L tác động gia đình bồi thường số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) cho bị hại và bị hại không yêu cầu về dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trương Quốc L về tội danh như cáo trạng truy tố.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 với tình tiết quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Trương Quốc L từ 10 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về án phí: Đề nghị bị cáo nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình, không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà, thống nhất với lời trình bày lời luận tội của Kiểm sát viên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 20/04/2024, Bùi Văn SLê Đức T1 đang ngồi chơi tại khu vực sân huyện. Lúc này Võ Ngọc Đ điều khiển xe máy chở Trương Quốc L đi ngang thấy S và T1 đang đứng. Nghĩ là S nhìn đểu mình nên L kêu Đ quay xe lại chỗ S dùng tay đánh vào đầu S sau đó lấy con dao từ trong túi quần mang theo trước đó đâm vào bụng S, gây thương tích 12% (mười hai phần trăm) đã đủ dấu hiệu cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, Trương Quốc L đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trương Quốc L đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trương Quốc L đã đủ 18 tuổi, là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý và nhận thức rõ được việc dùng dao là loại hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ đó là sức khỏe của công dân và làm mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần xử bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trương Quốc L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trương Quốc L không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng); bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bà Nguyễn Thị H2 (mẹ của Bùi Văn S) có đơn xin rút và không yêu cầu điều tra. Ông Trương Song T là bố của bị cáo được Chi nhánh 716 của Tổng công ty A thuộc Bộ Q1 tặng danh hiệu chiến sĩ tiên tiến vào ngày 18/01/2019. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Xét thấy ngày 02/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu sơn đen bạc, biển kiểm soát: 82X1- 003.97 giấy tờ đăng ký xe mang tên Trương Quốc L cho bị cáo Trương Quốc L để tiếp tục quản lý, sử dụng là có căn cứ.

- Đối với 01 (một) con dao thái lan trên đường về L đã vứt dọc đường đoạn thuộc thôn C, xã H. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng); bị hại có đơn xin bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bà Nguyễn Thị H2 (mẹ của Bùi Văn S) có đơn xin rút và không yêu cầu điều tra. Tại phiên tòa hôm nay, ông Trương Song T (bố ruột bị cáo) không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Hà đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà khai báo, đã có lời xin lỗi gia đình người bị hại; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; trách nhiệm dân sự, vật chứng trong vụ án, mức hình phạt đối với bị cáo Trương Quốc L từ 10 đến 12 tháng tù, xử lý dân sự, vật chứng của vụ án và án phí theo quy định.

[8] Về vấn đề khác: Đối với Võ Ngọc Đ, điều khiển xe mô tô chở Trương Quốc L sau đó L có hành vi tát và dùng dao đâm Bùi Văn S gây thương tích thì Đ không biết mục đích L nói Đ quay xe lại để làm gì, L và Đ không có bàn bạc, trao đổi nội dung gì liên quan đến mục đích gây thương tích cho Bùi Văn S nên hành vi của L là độc lập. Hành vi của Võ Ngọc Đ không đồng phạm với Trương Quốc L và không cấu thành tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.

[9] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trương Quốc L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (với tình tiết quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 54 của Bộ luật hình sự .

Xử phạt bị cáo Trương Quốc L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trương Quốc L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/9/2024) bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo trình tự phúc thẩm. Riêng bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh K;
  • - VKSND tỉnh K;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Quách Văn N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH K về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH K
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trương Quốc Lâm về tội “Cố ý gây thương tích”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger