|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-5-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Thanh và Bà Phan Thị Thắng.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Thị Tâm - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 403/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024; Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 26/2024/TB-TA ngày 03/5/2024; giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phan Thị Cẩm H, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Bùi Minh M, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Phan Bùi Minh C, sinh ngày 16/5/2009; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận: Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông M tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2008. Đến năm 2018 đăng ký kết hôn tại UBND xã S, huyện T. Sau khi kết hôn thì bà H, ông M đi làm và sinh sống tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau. Đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nên vợ chồng sống ly thân với nhau. Do ông M không chịu làm ăn mà ham chơi dẫn đến thiếu nợ nhiều người. Mỗi lần uống rượu về đập phá đồ đạc, đánh đập vợ con. Bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: Bà Phan Thị Cẩm H và ông Bùi Minh M có 01 người con chung tên Phan Bùi Minh C, sinh ngày 16/5/2009. Cháu C bị bệnh D đang được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng. Bà H là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con. Trường hợp vợ chồng ly hôn thì bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu C và không yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phan Thị Cẩm H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông M đều vắng mặt không có lý do và xác minh tại địa phương thì ông M không có mặt tại địa phương nhiều năm nay, ông M đi làm ăn xa, gia đình ông M đã bán nhà đi nơi khác nên ông M không có người thân tại địa phương mà chỉ đăng ký nơi cư trú tại thôn C, xã S, huyện T. Cho nên, Tòa án đã làm thủ tục đăng tin thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập làm việc trên B và Đ. Sau khi đăng tin, ông M vẫn không đến Tòa án làm việc theo quy định nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông M về những vấn đề liên quan trong vụ án.
[3]. Những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án:
Bà Phan Thị Cẩm H cung cấp các tài liệu, chứng cứ: 01 bản sao sổ lĩnh tiền trợ cấp xã hội; 01 bản sao căn cước công dân mang tên Phan Thị Cẩm H; 01 chứng nhận kết hôn; 01 trích lục khai sinh; đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Ông Bùi Minh M không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xác minh về tình trạng quan hệ hôn nhân của bà H, ông M và lấy lời khai đương sự.
[4]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh phát biểu ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa xét xử sơ thẩm.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình tuân thủ theo đúng quy định của BLTTDS. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 146, 147, 203, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Phan Thị Cẩm H được ly hôn với ông Bùi Minh M.
Về con chung: Giao Phan Bùi Minh C, sinh ngày 16/5/2009 cho bà Phan Thị Cẩm H nuôi dưỡng; ông Bùi Minh M không phải cấp dưỡng nuôi con và được quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được ngăn cản.
Về án phí: Bà Phan Thị Cẩm H phải nộp 300.000₫ phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của các đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Trong giai đoạn giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm H đã làm đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Bùi Minh M triệu tập hợp lệ hai lần, nhưng đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm H và bị đơn ông Bùi Minh M là phù hợp.
[2]. Về quan hệ pháp luật trong vụ án:
Nguyên đơn bà Phan Thị Cẩm H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và tranh chấp nuôi con. Ngoài ra, các đương sự không có yêu cầu nào khác. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1 [Về quan hệ hôn nhân]: Bà Phan Thị Cẩm H và ông Bùi Minh M tự nguyện kết hôn tại UBND xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 13, ngày 30/03/2018. Theo trình bày của bà H: Do bất đồng quan điểm sống và ông M không lo làm ăn chăm lo cho gia đình nên vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc. Cho nên, vợ chồng đã sống ly thân với nhau. Trong thời gian này, các bên không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Bà H không còn tình cảm với ông M nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, đã tiến hành đầy đủ các trình tự thủ tục nhưng ông M đều vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến của ông M về vấn đề quan hệ hôn nhân.
Như vậy, bà H xác định không còn mong muốn tiếp tục chung sống với ông M và không còn tình cảm với ông M. Do đó cuộc sống vợ chồng của bà H, ông M đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng; cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc; mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H có căn cứ chấp nhận và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2 [Về con chung]: Bà Phan Thị Cẩm H và ông Bùi Minh M có 01 người con chung tên Phan Bùi Minh C, sinh ngày 16/5/2009. Trong thời gian ly thân, bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng con nên bà H có nguyện vọng được nuôi con.
Do trong quá trình giải quyết vụ án, ông M vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể ghi nhận yêu cầu của ông M liên quan đến vấn đề con chung.
Xét thấy: Hiện nay cháu Phan Bùi Minh C đang chung sống cùng bà H tại thôn C, xã S, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Cháu C đang bị bệnh Down, thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội. Tại các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều xác định, cháu C đang chung sống với bà H. Bà H có nguyện vọng được quyền nuôi cháu Phan Bùi Minh C cho đến khi thành niên. Do đó, để đảm bảo cho cháu C có điều kiện ổn định cuộc sống; phát triển tốt về thể chất và tinh thần thì cần giao cháu Phan Bùi Minh C cho bà H được quyền nuôi dưỡng cho đến khi hết bệnh và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Bà H không có yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xét đến.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn – Bà Phan Thị Cẩm H không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Cẩm H.
Bà Phan Thị Cẩm H được ly hôn với ông Bùi Minh M.
-
Về con chung: Giao cho bà Phan Thị Cẩm H được quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 01 người con chung tên Phan Bùi Minh C, sinh ngày 16/5/2009 cho đến khi hết bệnh và có khả năng lao động. Ông Bùi Minh M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho bà Phan Thị Cẩm H, nhưng được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; không ai được ngăn cản.
Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- Về án phí: Bà Phan Thị Cẩm H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005256 ngày 13/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tánh Linh. Bà Phan Thị Cẩm H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Yến |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Cẩm H ly hôn Bùi Minh M
