TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-4-2024 Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Kiệm;
Ông Lãnh Văn Việt;
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 85/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nông Thị M, sinh năm 1990;
- Bị đơn: Anh Trương Văn L, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 22/02/2024, những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nông Thị M trình bày:
Chị và anh Trương Văn L kết hôn với nhau từ năm 2008. Trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 18/02/2009. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Chị M xác định mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2010, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, anh L chơi cờ bạc không quan tâm tới gia đình vợ con, chị M đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh L không nghe mà còn đánh chị. Đỉnh điểm mâu thuẫn từ ngày 30/4/2023 sau đó vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Vào tháng 7/2023 anh L có đến công ty nơi chị M làm việc xảy ra tranh cãi, anh lợi đã đánh chị nên bị công an xử phạt hành chính. Nay chị chị xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn L.
* Về con chung: Chị Nông Thị M xác định vợ chồng có 03 con chung là Trương Hoàng Yến N, sinh ngày 03/01/2010, Trương Nhật H sinh ngày 07/10/2012 và Trương Ngọc V, sinh ngày 04/6/2015. Sau khi ly hôn chị M có nguyện vọng để anh L nuôi cả 03 con chung, về cấp dưỡng nuôi con chung, chúng tôi tự thỏa thuận không đề nghị Toà án giải quyết.
* Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nông Thị M xác định vợ chồng có tài sản chung, có liên quan đến vay nợ chung nhưng chị M đề nghị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại biên bản tự khai ngày 14/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trương Văn L trình bày:
Anh và chị Nông Thị M kết hôn với nhau từ năm 2008. Trước khi kết hôn anh chị có được tự do tìm hiểu, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang ngày 18/02/2009. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Ban đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Anh L xác định vợ chồng đã mâu thuẫn đỉnh điển là từ 30/4/2023 chị M đi làm công ty, anh nghi ngờ chị M có quan hệ bất chính với người khác, sau đó anh có xuống công ty chị M làm việc và xảy ra xô sát, to tiếng. Nên chị M bỏ đi và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, anh muốn chị M suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ nuôi các con khôn lớn trưởng thành. Nếu chị M nhất định kiên quyết xin ly hôn thì anh nhất trí ly hôn với chị M.
* Về con chung: Anh L xác định vợ chồng có 03 con chung là Trương Hoàng Yến N, sinh ngày 03/01/2010, Trương Nhật H sinh ngày 07/10/2012 và Trương Ngọc V, ngày 04/6/2015. Hiện 03 con chung đang ở cùng anh, sau khi ly hôn các con đều có nguyện vọng ở với anh thì anh nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cả 03 con chung, về cấp dưỡng nuôi con chung anh đề nghị tự thỏa thuận không đề nghị Toà án giải quyết.
* Về tài sản chung, công nợ chung: Anh L xác định vợ chồng có tài sản chung, có liên quan đến vay nợ chung nhưng anh đề nghị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Nông Thị M và bị đơn là anh Trương Văn L vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử công bố lời khai của chị Nông Thị M và anh Trương Văn L trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nông Thị M được ly hôn với anh Trương Văn L.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho anh Trương Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung là Trương Hoàng Yến N, sinh ngày 03/01/2010, Trương Nhật H sinh ngày 07/10/2012 và Trương Ngọc V, ngày 04/6/2015. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, chị Nông Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nông Thị M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Nông Thị M khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn và con chung với anh Trương Văn L có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn X, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
3.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Nông Thị M và anh Trương Văn L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã G ngày 18/02/2009, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Nông Thị M và anh Trương Văn L là hợp pháp.
Quá trình chung sống: Chị Nông Thị M xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, anh L ham chơi cờ bạc không quan tâm đến vợ con, chị đã khuyên bảo nhưng anh L không nghe mà còn đánh chị nên vợ chồng sống ly thân nhau từ tháng 7/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa. Chị vẫn giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn L.
Anh Trương Văn L cũng xác định vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do chị M đi làm công ty, anh có nghi ngờ chị M có quan hệ bất chính với người khác nên vợ chồng có xảy ra xô sát. Vợ chồng đã sống ly thân anh từ tháng 7/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị M xin ly hôn thì anh đồng ý.
Mặc dù chị Nông Thị M và anh Trương Văn L đưa ra các nguyên nhân khác nhau nhưng cả hai đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, sống ly thân nhau đã lâu, chị M xin ly hôn thì anh L đồng ý. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh L xin vắng mặt, nên Tòa án không hòa giải được. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Nông Thị M và anh Trương Văn L đã căng thẳng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét chị chị Nông Thị M và anh Trương Văn L mâu thuẫn đã căng thẳng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị M, cho chị Nông Thị M được ly hôn với anh Trương Văn L là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2 Về con chung: Chị Nông Thị M và anh Trương Văn L đều xác định vợ chồng có 03 con chung là Trương Hoàng Yến N, sinh ngày 03/01/2010, Trương Nhật H sinh ngày 07/10/2012 và Trương Ngọc V, ngày 04/6/2015. Các con chung của anh chị đều có nguyện vọng ở với anh L, anh L nhận trách nhiệm nuôi dưỡng cả 3 con chung, chị Nông Thị M có ý kiến nhất trí để anh L nuôi dưỡng cả 3 con chung. Vì vậy, cần chấp nhận sự thỏa thuận của chị Nông Thị M và anh Trương Văn L, giao 03 con chung là Trương Hoàng Yến N, sinh ngày 03/01/2010, Trương Nhật H sinh ngày 07/10/2012 và Trương Ngọc V, sinh ngày 04/6/2015 cho cho anh Trương Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Về cấp dưỡng nuôi con chung do chị Nông Thị M và anh Trương Văn L trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án gải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn chị Nông Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3.3 Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Nông Thị M và anh Trương Văn L cùng xác định vợ chồng xác định vợ chồng có tài sản chung, có liên quan đến vay nợ chung nhưng cùng đề nghị tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Nông Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nông Thị M.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nông Thị M được ly hôn với anh Trương Văn L.
- - Về quan hệ con chung: Giao cho anh Trương Văn L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung là Trương Hoàng Yến N, sinh ngày 03/01/2010, Trương Nhật H sinh ngày 07/10/2012 và Trương Ngọc V, ngày 04/6/2015. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
- Sau khi ly hôn, chị Nông Thị M có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản và công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Nông Thị M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006007 ngày 28/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Khoản tiền này được chuyển thành án phí, chị M không phải nộp án phí nữa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nông Thị Man - Anh Trương Văn Lợi
