|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 4 - 2024
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,
tranh chấp về cấp dưỡng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Trường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thiện
2. Bà Nguyễn Thị Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 460/2023/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 10 năm 2023; về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 18 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Số nhà A, đường N, khu phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985; nơi cư trú hiện nay: Số nhà A, đường N, khu phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do chính đáng cũng không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo hồ sơ vụ án nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị Hồng C, anh Nguyễn Thanh H tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn và đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn chị C, anh H chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không chăm lo làm ăn, thường xuyên chời bời, ăn nhậu, kiếm chuyện gây gỗ với chị C; ngoài ra anh H còn quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, dẫn đến bị đánh ghen. Bản thân chị C và hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng anh H vẫn không thay đổi được. Mặc dù chị C, anh H vẫn còn sống chung nhưng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau. Hiện nay chị C không còn tình cảm với anh H và không mong muốn tiếp tục chung sống với anh H nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Chị C, anh H có một người con Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 04/5/2023, khi ly hôn chị C có nguyện vọng nuôi con và yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng; Về tài sản chung và nợ chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh H:
Sau khi thụ lý vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra viên giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập nhưng đều không có ý kiến gửi Tòa án, cũng không tham gia làm việc. Do đó, tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại biên bản xác minh ngày 21/3/2024, công an thị trấn Đ cung cấp thông tin, thể hiện:
Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1985 có vợ là Nguyễn Thị Hồng C, sinh năm 1989. Hiện anh H sinh sống tại số nhà A, đường N, khu phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Tại biên bản xác minh ngày 04/12/2023, thể hiện:
Chị Nguyễn Thị Hồng C, anh Nguyễn Thanh H tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, sau khi kết hôn gia đình có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Thời gian đầu sau khi kết hôn chị C, anh H chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau này anh H rơi vào tệ nạn cờ bạc, chơi bời, dẫn đến nợ nần. Gia đình đã nhiều lần trả nợ và tìm cách khuyên bảo nhưng anh H vẫn không thay đổi được. Nên vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
+ Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về quyền và nghĩa vụ của đương sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử cho chị Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H; giao con chung Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 04/5/2023 cho chị C nuôi dưỡng và buộc anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bị đơn anh Nguyễn Thanh H hiện cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận nên việc khởi kiện của nguyên đơn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận được quy định tại khoản 1, 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Chị Nguyễn Thị Hồng C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giải quyết quyền nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con đối với anh Nguyễn Thanh H nên quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng” được quy định tại khoản 1, 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Thanh H không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, cũng không có lý do chính đáng. Vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng C nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Chị Nguyễn Thị Hồng C, anh Nguyễn Thanh H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 16/4/2012, số vào sổ 65/2012, quyển số 01/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Sau khi kết hôn chị C, anh H chung sống hạnh phúc với nhau một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Chị C, anh H cũng như hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng vẫn không có kết quả. Mặc dù hiện nay chị C, anh H vẫn còn sống chung nhưng chị C thừa nhận các bên không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc gì nhau và chị C hiện cũng không còn tình cảm gì với anh H. Bản thân anh H, sau khi thụ lý vụ án mặc dù Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên họp, hòa giải đoàn tụ để các bên quay về chung sống với nhau nhưng không tham gia, không có ý kiến, điều đó chứng tỏ anh H cũng không còn tha thiết gì cuộc sống hôn nhân với chị C. Nên có cơ sở xác định mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh H đã kéo dài và trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó nếu có tiếp tục chung sống sẽ không tạo dựng được hạnh phúc mà mâu thuẫn sẽ lại càng nghiêm trọng hơn. Nên, cần xử cho chị C được ly hôn với anh H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Quá trình giải quyết vụ án chị C có nguyện vuộng được quyền nuôi con Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 04/5/2023, trong khi anh H không có ý kiến gì. Việc giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt và xem xét nguyện vọng của con cũng như điều kiện thực tế của người trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, cháu N là nữ, hiện dưới 36 tháng tuổi đang trong độ tuổi phát triển thể chất và tâm, sinh lý. Do đó, để bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên về mọi mặt thì cần giao con cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.
[6] Chị C yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 đồng. Nhận thấy, yêu cầu cấp dưỡng tiền nuôi con của chị C là có căn cứ, bởi lẽ chị C là người trực tiếp nuôi con, nên anh H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng, tuy nhiên mức cấp dưỡng 2000.000 đồng/tháng mà chị C đưa ra là cao so với mức sống tại địa phương, cũng như nhu cầu hiện tại của con, nên cần điều chỉnh mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt trong trường hợp quy định tại Điều 118 luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Đối với khoản tiền cấp dưỡng, chị C có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi bổ sung.
[7] Các bên không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên không xem xét.
[8] Chị C phải chịu án phí ly hôn, anh H phải chịu án phí cấp dưỡng.
[9] Về kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1, 5 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; Điều 203; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84; khoản 1 Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 2 Điều 2, Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung; Điểm a khoản 5, điểm a, đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng C.
-
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hồng C được ly hôn với anh Nguyễn Thanh H.
Giấy chứng nhận kết hôn đăng ký ngày 16/4/2012, số vào sổ 65/2012, quyển số 01/2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ tỉnh Bình Thuận hết hiệu lực, kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hồng C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục người con chung Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 04/5/2023.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị C có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.
-
Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Thanh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con Nguyễn Ngọc An N, sinh ngày 04/5/2023 cho chị Nguyễn Thị Hồng C mỗi tháng là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng).
Chị C có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay, mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chấm dứt khi phát sinh trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
-
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hồng C phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0017656, ngày 24 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Chị C đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Anh Nguyễn Thanh H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, để Tòa án cấp trên xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Vì lợi ích của con, khi có lý do chính đáng, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, tranh chấp về cấp dưỡng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hồng Chuâ-Nguyễn Thanh Hiền
