Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15 - 5 - 2024

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Cúc;
  2. Bà Nguyễn Thị Hoàng Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thẩm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hải - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim M - sinh năm 1978
  2. Địa chỉ: Thôn L - xã N - thị xã N - tỉnh Khánh Hòa.

    Có mặt tại phiên tòa.

  3. Bị đơn: Ông Võ Đoàn T - sinh năm 1975
  4. Địa chỉ: Thôn L - xã N - thị xã N - tỉnh Khánh Hòa.

    Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Kim M trình bày:

Bà và ông Võ Đoàn T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N (nay là thị xã N) vào năm 2000. Quá trình chung sống giữa vợ chồng thường xảy ra sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông T có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác nên vợ chồng xảy ra kình cãi với nhau. Ông T sử dụng bạo lực gia đình với bà và không quan tâm chăm sóc gia đình vợ con. Mặc dù bà đã cố gắng chịu đựng nhưng ông T vẫn không khắc phục nên vợ chồng không thể hòa hợp được và không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay. Bà M xác định không còn tình cảm, vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu ly hôn với ông T. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Võ Anh K – sinh năm 2000 và Võ Nguyên K1 - sinh ngày 25/11/2011; con chung Võ Anh K đã trưởng thành, khỏe mạnh nên bà không có yêu cầu gì, bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung Võ Nguyên K1 và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa giải quyết. Về nợ chung: không có.

Theo bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn ông Võ Đoàn T trình bày:

Thời gian, điều kiện kết hôn đúng như bà M trình bày. Quá trình chung sống giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn do bất hòa, kình cãi với nhau nhưng không đáng kể. Ông thừa nhận khi cãi nhau trong lúc nóng giận có đánh bà M và thừa nhận giữa vợ chồng không có niềm tin với nhau, không có sự nhường nhịn nhau nhưng ông có thể khắc phục được. Nay bà M yêu cầu ly hôn thì ông T không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm với bà M. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Võ Anh K – sinh năm 2000 và Võ Nguyên K1 – sinh ngày 25/11/2011; trong trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn thì ông đồng ý giao con chung Võ Nguyên K1 cho bà M nuôi dưỡng và ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng; con chung Võ Anh K đã trưởng thành, khỏe mạnh nên ông không có yêu cầu gì. Về tài sản chung; không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng nguyên đơn và bị đơn đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân của bà M và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà M được ly hôn ông T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Con chung Võ Anh K – sinh năm 2000 đã trưởng thành nên đề nghị không xem xét. Đề nghị giao con chung Võ Nguyên K1 – sinh ngày 25/11/2011 cho bà M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung: Bà M và ông T không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa bà Nguyễn Kim M, ông Võ Đoàn T thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Kim M và ông Võ Đoàn T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện N - nay là thị xã N (giấy chứng nhận kết hôn số 14/2000 ngày 28/4/2000), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau giữa bà M và ông T đã phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Ông T không có sự nhường nhịn, chia sẻ và không có niềm tin với vợ làm ảnh hưởng lớn đến tình cảm dẫn đến bà M không còn chung sống với ông T và yêu cầu ly hôn.

Tại phiên tòa, bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông T. Ông T không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với vợ, tuy nhiên từ khi phát sinh mâu thuẫn đến nay, ông T không có biểu hiện nào cho thấy có việc hàn gắn tình cảm với bà M. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà M và ông T đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà M là hoàn toàn phù hợp.

[3] Về con chung: Bà M và ông T có 02 con chung là Võ Anh K – sinh năm 2000 và Võ Nguyên K1 – sinh ngày 25/11/2011. Con chung Võ Anh K đã trưởng thành, khỏe mạnh nên Hội đồng xét xử không xét.

Bà M và ông T đều đồng ý giao con chung Võ Nguyên K1 cho bà M trực tiếp nuôi dưỡng, ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ. Xét yêu cầu về nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà M phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Bà M, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà M, ông T xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Bà M phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Nguyễn Kim M được ly hôn ông Võ Đoàn T.

2. Về con chung: Võ Anh K – sinh năm 2000 đã trưởng thành, khỏe mạnh.

Bà Nguyễn Kim M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Võ Nguyên K1 – sinh ngày 25/11/2011. Ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 6/2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí:

- Bà Nguyễn Kim M nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ mà bà M đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005521 ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã N. Bà M đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

- Ông Võ Đoàn T nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ cấp dưỡng.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thị xã N;
  • - Chi cục THADS thị xã N;
  • - UBND xã N, thị xã N;
  • (nơi đăng ký kết hôn)
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Ái Vy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà M yêu cầu ly hôn ông T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger