|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/DS-ST
Ngày: 15-4-2024.
V/v tranh chấp
“Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Chí Lin
- Bà Trần Thị Đổi
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 678/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2024/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần () Bản Việt
Địa chỉ: Tòa nhà H, số D N, phường E, Quận C, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Quang T – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Phúc H – Giám đốc Trung tâm quản lý và thu hồi nợ.
Ủy quyền lại cho: Ông Phan Chí H1 hoặc Nguyễn Hoàng H2. (ông H1 có mặt, ông H2 vắng mặt)
Địa chỉ liên hệ: Tòa nhà HM T, số D N, phường E, Quận C, TP ..
- Bị đơn:
1/ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968. (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số B, ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.
2/ Bà Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1970 (vắng mặt)
Địa chỉ thường trú: Số C, khu V, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 18 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan Chí H1 trình bày: Vào ngày 12/02/2018, Ngân hàng TMCP B1 và ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 có ký Hợp đồng tín dụng số 0077/00918/TDTL-CN. Theo đó, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 vay Ngân hàng TMCP B1 số tiền là 1.250.000.000 đồng. Thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay mua ô tô tải mới 100% HINO FG8JJSB với lãi suất cho vay chi tiết theo Giấy nhận nợ. Tài sản đảm bảo nợ vay là 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2 theo Hợp đồng thế chấp động sản số 0077/00918/02A.HĐTCĐS ngày 12/02/2018.
Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ số tiền vay 1.250.000.000 đồng cho ông T1 và bà T2 theo Giấy nhận nợ số 01/0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018.
Trong quá trình thực hiện các hợp đồng, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã cam kết dù đã hết thời hạn vay và Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu, cụ thể tính đến ngày xét xử vụ án (15/4/2024), số tiền ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 chưa thanh toán cho Ngân hàng TMCP B1 là 889.348.327 đồng (trong đó nợ gốc là 467.648.435 đồng, lãi trong hạn là 155.867.792 đồng, lãi chậm trả lãi là 50.483.694 đồng, lãi phạt gốc là 215.348.406 đồng).
Nay Ngân hàng TMCP B1 yêu cầu ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2 có trách nhiệm liên đới trả tổng số tiền là 889.348.327 đồng (trong đó nợ gốc là 467.648.435 đồng, lãi trong hạn là 155.867.792 đồng, lãi chậm trả lãi là 50.483.694 đồng, lãi phạt gốc là 215.348.406 đồng – tính đến ngày 15/4/2024) và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ từ ngày 16 tháng 4 năm 2024 đến khi thanh toán đủ số nợ. Trong trường hợp thanh toán không đủ, hoặc không thanh toán đề nghị xử lý tài sản thế chấp là 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2 theo Hợp đồng thế chấp động sản số 0077/00918/02A.HĐTCĐS ngày 12/02/2018 để thu hồi nợ.
Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T1 trình bày tại Bản tự khai ngày 21/3/2024: Ông xác nhận vợ chồng ông có vay của Ngân hàng TMCP B1 số tiền 1.250.000.000đồng, theo Hợp đồng tín dụng ngày 12/02/2018 để mua ô tô tải chở rác HINO. Thời hạn vay là 60 tháng. Tài sản đảm bảo nợ vay là 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2 theo Hợp đồng thế chấp động sản số 0077/00918/02A.HĐTCĐS ngày 12/02/2018. Ông T1 xác nhận có vi phạm nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng TMCP B1.
Nay Ngân hàng TMCP B1 yêu cầu vợ chồng ông trả số tiền gốc và lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký, ông đồng ý, nhưng xin thời gian 03 tuần để thanh toán. Trong trường hợp thanh toán không đủ, hoặc không thanh toán ông đồng ý để Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2. Xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 hiện nay ông T1 vẫn đang quản lý, sử dụng, xe hoạt động bình thường.
Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cần thiết, đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các thủ tục theo pháp luật quy định nhưng bị đơn bà Nguyễn Thanh T2 vẫn vắng mặt, cũng không có văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 có địa chỉ thường trú tại huyện Đ, tỉnh Long An (xã H và thị trấn Đ) nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện:
[2.1] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của ông Phan Chí H1 và ông Nguyễn Văn T1 trong quá trình giải quyết vụ án, thấy rằng giữa Ngân hàng TMCP B1 với ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 và Giấy nhận nợ số 01/0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 để ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 vay Ngân hàng TMCP B1 số tiền 1.250.000.000 đồng, thời hạn vay là 60 tháng, mục đích vay mua ô tô tải mới 100% HINO FG8JJSB. Tài sản đảm bảo nợ vay là 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2 do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 019023 theo Hợp đồng thế chấp động sản số 0077/00918/02A.HĐTCĐS ngày 12/02/2018.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, đến nay đã hết thời hạn cho vay theo hợp đồng tín dụng do đó Ngân hàng TMCP B1 có quyền thu hồi nợ (gốc và lãi) đối với ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 là phù hợp với thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Giấy nhận nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thể hiện rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Nguyễn Văn T1 có lời trình bày xác nhận việc vay tiền có thế chấp bằng 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 như Ngân hàng trình bày, và đồng ý thanh toán nợ cho Ngân hàng cũng như để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp không thanh toán được số tiền vay và lãi phát sinh. Bà Nguyễn Thanh T2 vắng mặt cũng không có bất cứ ý kiến phản hồi nào về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào do đó Tòa án không thể xem xét ý kiến của bà Nguyễn Thanh T2 trong vụ án.
Căn cứ vào bản chiết tính lãi do nguyên đơn cung cấp, số tiền gốc, lãi ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 còn nợ Ngân hàng TMCP B1 theo Hợp đồng tín dụng số 0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 và Giấy nhận nợ số 01/0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (15/4/2024) là 889.348.327 đồng (trong đó nợ gốc là 467.648.435 đồng, lãi trong hạn là 155.867.792 đồng, lãi chậm trả lãi là 50.483.694 đồng, lãi phạt gốc là 215.348.406 đồng.
[2.2] Về biện pháp bảo đảm:
Để bảo đảm cho số tiền vay theo Hợp đồng tín dụng số 0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 và Ngân hàng TMCP B1 đã ký Hợp đồng thế chấp động sản số 0077/00918/02A.HĐTCĐS ngày 12/02/2018, tài sản thế chấp là 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2 do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô. Do đó, trong trường hợp không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 và Giấy nhận nợ số 01/0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018, Ngân hàng TMCP B1 có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trên để thu hồi nợ là phù hợp.
Ông Nguyễn Văn T1 có lời trình bày xác nhận hiện nay ông vẫn đang quản lý, sử dụng xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74. Do đó trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 có trách nhiệm để cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp thanh toán nợ cho Ngân hàng.
[2.3]. Về lãi suất: ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi phát sinh trên số tiền nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 và Giấy nhận nợ số 01/0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là phù hợp.
Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP B1 là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về án phí: ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91, khoản 2, 3 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B1 đối với ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.
1.1. Ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP B1 số tiền tính đến ngày 15/4/2024 là 889.348.327 đồng – Tám trăm tám mươi chín triệu ba trăm bốn mươi tám ngàn ba trăm hai mươi bảy đồng (trong đó nợ gốc là 467.648.435 đồng, lãi trong hạn là 155.867.792 đồng, lãi chậm trả lãi là 50.483.694 đồng, lãi phạt gốc là 215.348.406 đồng
Kể từ ngày 16/4/2024 đến khi thi hành xong số tiền trên, ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 phải trả cho Ngân hàng TMCP B1 thêm số tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 và Giấy nhận nợ số 01/0077/00918/TDTL-CN ngày 12/02/2018 tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.
1.2. Trường hợp vi phạm về nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng TMCP B1 được quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là 01 xe ô tô chở rác HINO FG8JJSB biển số 62C-106.74 thuộc sở hữu của ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thanh T2 do ông Nguyễn Văn T1 đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô theo Hợp đồng thế chấp động sản số 0077/00918/02A.HĐTCĐS ngày 12/02/2018 để đảm bảo thi hành án; ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 có trách nhiệm giao tài sản trên để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc xử lý tài sản thế chấp.
2. Về án phí: ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thanh T2 phải nộp 38.680.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước.
H3 lại cho Ngân hàng TMCP B1 số tiền 18.160.922 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0006199 ngày 18/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.
Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Bình An |
Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 48/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGÂN HÀNG BV "TRANH CHẤP HĐ TÍN DỤNG" ÔNG T, BÀ TR
