|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày 14 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Quốc Hưng và bà Phạm Thị Bích Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Minh – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
*. Họ và tên: YADOLAH KHASAMIRIARGANEH - Sinh ngày 24/6/1976, tại Cộng hòa hồi giáo I- R. Hộ khẩu thường trú: Số nhà B đường A, thành phố T - Cộng hòa Hồi giáo Iran. Nơi ở hiện nay: Số B ngõ E, phố T, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 09/9; dân tộc: Shiite; giới tính: Nam; tôn giáo: Hồi giáo; Quốc tịch: Công hòa hồi giáo I1. Con ông R - Sinh năm: 1955 và bà F (đã chết), bị cáo là con duy nhất trong gia đình; có vợ là: ZAHRA - Sinh năm 1988 và 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2017 (Đều trú tại Công hòa Hồi giáo I1). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/02/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên toà)
*. Bị hại: Chị Hoàng Thị Việt A - Sinh năm 1990;
Nơi cư trú: Tổ E, phường M, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
*. Người làm chứng:
- Chị Lâm Hoài A1 - Sinh năm 1999;
Nơi cư trú: Tổ H, phường C, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên;
- Anh Hossein B – Sinh năm: 1987;
Nơi ĐKHKTT: Số C K rollo đường A thành phố K - Cộng hòa Hồi giáo Iran. Nơi ở hiện nay: Số B ngõ E, phố T, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
*. Người phiên dịch: Bà Phạm Bắc T - Sinh năm: 1990; Giảng viên trường Đại học K.
Nơi cư trú: Tổ A, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
( Bà T có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/12/2023, bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH (Quốc tịch I-ran), từ I đến thành phố Hồ Chí Minh và làm thủ tục nhập cảnh vào Việt Nam để đi thăm quan, du lịch. Tại đây, YADOLAH gặp BOORIBANDEH HOSSEIN, sinh năm 1987, Quốc tịch: Iran và rủ HOSSEIN cùng đi du lịch. Sau đó YADOLAH thuê xe ô tô nhãn hiệu KIA K3 Biển kiểm soát (BKS): 79A- 412.16 của Công ty TNHH A2 địa chỉ: B B, phường A, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 30 ngày và cùng HOSSEIN đi đến thành phố Hà Nội và thuê 01 phòng trọ ở địa chỉ số B, phố T, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội.
Khoảng 12h 00 phút ngày 29/01/2024 BOORIBANDEH HOSSEIN điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, BKS 79A- 412.16 chở YADOLAH đi từ thành phố Hà Nội đến thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày khi cả hai người đi đến đoạn đường đối diện cổng chợ M, thuộc Tổ dân phố E, phường M, thành phố S, HOSSEIN đỗ xe tại vỉa hè bên phải đường, YADOLAH xuống xe đi vào Cửa hàng bán đồ sơ sinh “Mẹ và bé” của chị Hoàng Thị Việt A mua đồ. Khi vào trong cửa hàng, YADOLAH gặp chị Lâm Hoài A1 là nhân viên bán hàng mua 02 hộp phô mai với giá 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi mua xong, YADOLAH đi đến bàn thu ngân lấy ra 04 tờ tiền Polime mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ P mệnh giá 50.000 đồng, đồng thời giơ bàn tay ra hiệu thì chị Hoài A1 hiểu ý YADOLAH muốn đổi 500.000 đồng tiền lẻ lấy 500.000 đông tiền chẵn. Sau đó chị Hoài A1 mở ngăn kéo bàn thu ngân lấy 01 cọc tiền được buộc bằng dây chun gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng, 100.000 đồng và lấy 01 tập tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) đưa cho YADOLAH, số tiền còn lại để trên mặt bàn. Lúc này, YADOLAH nhìn thấy cọc tiền của chị Hoài A1 có nhiều tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi YADOLAH đổi được tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và đặt trên bàn và dùng tay chỉ vào số seri của tờ tiền (ý nói muốn đổi tờ tiền có số seri khác), đồng thời cầm lấy cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng của chị Hoài A1 để trên mặt bàn, tháo dây buộc, xòe cầm trên tay và dùng tay trái lấy 01 xấp tiền mệnh giá 500.000 đồng để xuống dưới cọc tiền, dùng ngón tay cuộn xấp tiền
vào trong lòng bàn tay phải. Trong lúc chị Hoài A1 không để ý, YADOLAH cất giấu số tiền này vào trong túi áo khoác bên phải của mình, lấy dây chun buộc tiền lại đưa trả lại chị Hoài A1, do không biết YADOLAH trộm cắp tiền, chị A1 cất cọc tiền vào ngăn kéo bàn thu ngân. Sau khi trộm cắp được tiền YADOLAH ra xe cùng HOSSEIN đi về thành phố Hà Nội nhưng không nói cho HOSSEIN biết mình trộm cắp tiền. Khi về đến bãi gửi xe ở Tổ D, phường N, quận T, TP Hà Nội, YADOLAH đếm số tiền trộm cắp được là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), gồm 16 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Số tiền trộm cắp được YADOLAH sử dụng mua quần áo, giầy dép hết 4.900.000 đồng (Bốn triệu chín trăm nghìn đồng), còn lại 3.100.000 đồng cất giữ trong người.
Đối với bị hại, tối ngày 29/01/2024, chị Lâm Hoài A1 kiểm đếm số tiền bán hàng trong ngày thì phát hiện bị mất trộm số tiền 8.000.000 đồng và báo cho chị Hoàng Thị Việt A chủ cửa hàng, đồng thời đã trình báo Cơ quan điều tra Công an thành phố S giải quyết theo quy định pháp luật. Chị Hoàng Thị Việt A giao nộp Cơ quan điều tra Công an thành phố S số tiền 21.400.000 đồng trong đó có 25 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 24 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 41 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trong đó có tờ tiền đối tượng YADOLAH người nước ngoài dùng tay cầm vào, 02 giây chun màu vàng đã qua sử dụng.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 đoạn video chứa dữ liệu hình ảnh ghi lại nội dung sự việc ngày 29/01/2024tại cửa hàng bán đồ sơ sinh “Mẹ và bé” sao lưu vào đĩa CD đưa vào hồ sơ vụ án.
Ngày 31/01/2024 Cơ quan điều tra Công an thành phố S tiến hành lệnh khám xét chỗ ở của YADOLAH KHASAMIRIARGANEH tại số B T phường Q, quận T, thành phố Hà Nội. Kết quả khám xét YADOLAH tự nguyện giao nộp số tiền 3.100.000 đồng và 91 USD mệnh giá đô la mỹ, 01 áo khoác vải gile màu xanh tím than; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen (đã qua sử dụng); 01 xe ô tô BKS 79A- 412.16; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 1945627; 01 giấy công nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 đăng ký xe ô tô 79015491 xe ô tô BKS 79A - 412.16; 01 hộ chiếu số E65650504 của bị cáo.
Quá trình điều tra, bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: Số tiền 21.400.000 đồng tạm giữ của bị hại, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Hoàng Thị Việt A.
Đối với chiếc 01 xe ô tô BKS 79A 412-16; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 1945627, 01 giấy công nhận bảo hiểm tự nguyện; 01 đăng ký xe ô tô 79015491 xe ô tô BKS 79A - 412.16, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Lê Minh T1, trú tại: Ấp C xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp quản lý, sử dụng.
Quá trình điều tra, bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Hoàng Thị Việt A được bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH bồi thường trả số tiền 8.000.000 đồng và
chị A không yêu cầu đề nghị gì thêm. Công ty TNHH A2 đã nhận lại xe ô tô nhãn hiệu KIA K3, BKS 79A-412.16 và cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 46/CT - VKS ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra.
- Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Tuyên bố:
Bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH từ 06 - 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác gile màu xanh tím than, đã qua sử dụng và 02 dây chun màu vàng; tạm giữ số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng) để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, 91 USD và 01 chiếc hộ chiếu mang tên bị cáo. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST nộp ngân sách nhà nước theo quy định.
Bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình, thừa nhận việc truy tố là không oan, đúng người, đúng tội.
Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù, để cho bị cáo sớm trở về quê hương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, tự nguyện nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận, vì đã phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để Hội đồng xét xử kết luận:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH đã đi vào cửa hàng bán đồ sơ sinh “Mẹ và bé” có địa chỉ tại TDP E, phường M, thành phố S để mua hàng (Là 02 hộp phô mai). Sau khi mua hàng xong, lợi dụng sự sơ hở của người bán hàng nên bị cáo đã có hành vi trộm cắp số tiền 8.000.000 đồng của chị Hoàng Thị Việt A là chủ cửa hàng với mục đích để chi tiêu phục vụ nhu cầu cá nhân. Hành vi đó của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
Điều 173 BLHS. Tội trộm cắp tài sản.
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Vì vậy, cần có một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi vụ việc bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại để khắc phục hậu quả, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
Xét nhân thân, thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là công dân người nước ngoài, nên nhận thức pháp luật của N có phần hạn chế và cũng cần có chính sách khoan hồng đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Việt Nam, giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, xét tính chất của vụ án cần xử
phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian phù hợp để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là bị phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy hiện nay bị cáo không có tài sản riêng trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã có hành vi trộm cắp số tiền 8.000.000 đồng của chị Hoàng Thị Việt A, sau khi vụ án bị phát hiện bị cáo đã bồi thường cho chị A số tiền trên, chị A không có yêu cầu đề nghị gì thêm đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết tiếp.
[6] Về xử lý vật chứng vụ án như sau: Áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS xử lý vật chứng vụ án như sau:
- Đối với 01 chiếc áo khoác gile, màu xanh tím than đã qua sử dụng, xét thấy đây là tài sản không có giá trị, tại phiên tòa bị cáo cũng không yêu cầu được nhận lại chiếc áo này, đối với 02 dây chun màu vàng đã qua sử dụng xét thấy không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, 91 USD và 01 chiếc hộ chiếu mang tên bị cáo, xét thấy đây là những tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo và không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.
- Về số tiền 3.100.000 đồng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
[7]Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.
[8]Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST nộp vào ngân sách nhà nước Nhà nước theo quy định pháp luật
[10].Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn Luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 47, khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH;
- Điều 106, Điều 136 và Điều 329, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2.Về hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 02/02/2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 173 của BLHS.
4. Ra Quyết định tạm giam bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
6.Về xử lý vật chứng vụ án như sau:
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo khoác gile màu xanh tím than, đã qua sử dụng (Được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu IR3) và 02 dây chun màu vàng (Được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu Anh 1).
- Tạm giữ số tiền 3.100.000 đồng (Ba triệu một trăm nghìn đồng) để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo các tài sản sau đây: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen, đã qua sử dụng (Được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu H1); 91 USD (Được niêm phong trong bì niêm phong có dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an thành phố S, ký hiệu IR2, bên ngoài có ghi “Số tiền 91 đô la Mỹ”) và 01 chiếc hộ chiếu mang tên YADOLAH KHASAMIRIARGANEH (Được niêm phong trong phong bì niêm phong có đóng dấu giáp lai của Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên).
7.Về án phí: Buộc bị cáo YADOLAH KHASAMIRIARGANEH phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
8.Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại (Chị Hoàng Thị Việt A) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên; - VKSND, THADS TP. Sông Công; - Công an TP. Sông Công; - Bị cáo, bị hại; - Lưu Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Toản |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
