Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 14/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

======== *&* ========

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Bà: Cao Thị Đào.

Các hội thẩm nhân dân: 1- Ông Vũ Hùng Tuấn

2- Ông Nguyễn Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

- Đại diện VKSND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích P - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện thành phố Việt Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo: Bùi Tiến P1 sinh ngày 17/12/1968; tại: Phú Thọ; Nơi ĐKNKTT + chỗ ở hiện nay: Khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Tiến G, sinh năm 1930; Con bà: Đào Thị K, sinh năm 1934; Vợ: Phạm Thị Thu H, sinh năm 1973; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 144/2003/HSST ngày 25/11/2003 của TAND thành phố Việt Trì bị xử phạt P1 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. P1 đã chấp hành xong án phí và các quyết định khác của bản án ngày 07/10/2004, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2005. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 22/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại đội A, khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).
  2. Bị cáo: Phạm Văn T sinh ngày: 02/10/1978; tại: Phú Thọ; nơi ĐKNKTT + chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Văn C, sinh năm 1949; Con bà: Lê Thị T1, sinh năm 1954; Vợ: Lê Thị H1, sinh năm 1982; con: có 04 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/01/2024 đến ngày 22/01/2024 được hủy bỏ biện pháp ngăn chặn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo tại ngoại tại thôn C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 30 phút, ngày 18/01/2024, tại đường dân sinh thuộc đội A, khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố V tiến hành kiểm tra hành chính đối với Bùi Tiến P1 - Sinh năm 1968, trú tại đội 10, khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Quá trình thu giữ 01 tờ giấy trắng có ghi các số lô. Tại chỗ, Bùi Tiến P1 khai nhận vào khoảng 17 giờ 47 phút cùng ngày, qua ứng dụng zalo, P1 đã bán số lô cho Phạm Văn T - Sinh năm 1978, trú tại xóm C, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc với số tiền đánh bạc là 2.760.000 đồng (hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Sau khi so sánh với kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày, T trúng 40 điểm lô tương ứng với 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Tổ công tác đã thu giữ của P1 01 tờ giấy nêu trên cùng 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S màu trắng gắn sim số 0984.480.136, số imei 353311078741711, 01 bút bi mực đen.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Tiến P1. Quá trình khám xét, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Căn cứ lời khai của P1, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Phạm Văn T để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Bùi Tiến P1 và Phạm Văn T khai nhận như sau:

Bản thân Bùi Tiến P1 không có việc làm ổn định, muốn kiếm tiền tiêu sài cá nhân, do P1 có mối quan hệ quen biết từ trước với Phạm Văn T nên đã thống nhất khi nào T có nhu cầu mua số lô, số đề thì nhắn tin hoặc gọi điện qua ứng dụng zalo cho P1.

Hình thức đánh bạc và tỷ lệ thắng thua, P1 thỏa thuận thống nhất với T như sau: Cách thức chơi là dựa trên kết quả mở thưởng của xổ số kiến thiết miền B vào hồi 18 giờ 15 phút trong ngày để xác định thắng thua. Số lô là số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99. Số lô được so sánh với hai số cuối của tất cả các giải thưởng. Một điểm lô P1 bán cho T giá 23.000 đồng nếu trúng thưởng sẽ được 80.000đồng/ 1 điểm. Hai bị cáo thống nhất thanh toán tiền thắng thua vào ngày hôm sau.

Khoảng 17 giờ 47 phút ngày 18/01/2024, T sử dụng tài khoản zalo “Phạm Văn T” (Phương lưu trong danh bạ điện thoại là “Hoa Tài”) được đăng ký bằng số điện thoại 0985.874.xxx gọi điện thoại đến tài khoản zalo “Bùi P1” được đăng ký bằng số điện thoại 0984.480.xxx của P1 để mua 03 số lô 06, 71, 56 mỗi số 40 điểm tương ứng số tiền 2.760.000đồng (hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). P1 đồng ý bán các số lô trên cho T và ghi lại các số lô T mua vào một tờ giấy trắng để so sánh kết quả. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi so sánh với kết quả mở thưởng của xổ số miền B cùng ngày, T trúng số lô 71 = 40 điểm tương ứng số tiền trúng thưởng là 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng). Tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô giữa P1 và T vào ngày 18/01/2024 là 5.960.000 đồng (năm triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng). Quá trình làm việc, T đã giao nộp lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro màu xanh gắn sim số 0985.874.409 mà T đã sử dụng để mua số lô của P1 vào ngày 18/01/2024.

Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKS-VT ngày 19 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì truy tố các bị cáo Bùi Tiến Phương và Phạm Văn Tài về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như cáo trạng truy tố đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Tiến P1 và Phạm Văn T phạm tội “Đánh bạc”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Tiến P1 từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ; Bị cáo được khấu trừ 03 ngày tạm giữ thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 14 tháng 21 ngày đến 17 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án

Giao bị cáo P1 cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố V giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường M trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo P1 thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự.

Do bị cáo là người không có thu nhập ổn định, nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Bị cáo P1 phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ 03 ngày tạm giữ thành 09 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành từ 5 tháng 21 ngày đến 8 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Bị cáo T phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo P1 và bị cáo T không có tài sản, thu nhập ổn định, do đó không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:

  • + Tịch thu, sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12Pro màu xanh, số IMEI1: 356685110024203, IMEI2: 356685110551718, đã qua sử dụng, thu giữ của Phạm Văn T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6S màu trắng, số IMEI: 353311078741711, đã qua sử dụng, thu giữ của Bùi Tiến P1;
  • + Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bút bi mực đen, 02 (hai) phôi sim số 0985.874.409 thu giữ của Phạm Văn T và phôi sim số 0984.480.136 thu giữ của Bùi Tiến P1;
  • + Do trước khi bị bắt các bị cáo chưa thanh toán tiền đánh bạc với nhau. Do đó, truy thu của các bị cáo: Phạm Văn T số tiền 2.760.000 đồng, Bùi Tiến P1 số tiền 3.200.000 đồng để sung quỹ nhà nước.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc các bị cáo mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 17 giờ 47 phút ngày 18/01/2024 tại khu H, phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Bùi Tiến P1 có hành vi bán số lô 06,71,56 cho Phạm Văn T mỗi số 40 điểm với số tiền 2.760.000đ. Hành vi đánh bạc của P1 và T bị phát hiện và bị bắt sau khi có kết quả mở thưởng sổ số kiến thiết M, T trúng số lô 71= 40 điểm tương ứng với số tiền trúng thưởng là 3.200.000đ. Do vậy tổng số tiền Phương và T đánh bạc dưới hình thức bán số lô là 5.960.000đ. Như vậy, hành vi của bị cáo P1 và bị cáo T có đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định.

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc là hành vi trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích vụ lợi cá nhân nên cần xử phạt các bị cáo để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố bị cáo P1 là ông Bùi Tiến G là người có công với cách mạng đã được tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng ba, bố bị cáo T là ông Phạm Văn C là người có công với cách mạng, được nhà nược tặng Huy chương chiến sỹ giải phóng và huy chương kháng chiến hạng nhì trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P1 có nhân xấu đã bị Tòa án nhân dân thành phố việt Trì xử phạt 24 tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” nhưng đã được xóa án tích nên bị cáo P1 không được hưởng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T có nhân thân tốt nên bị cáo T được hưởng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng. Do vậy không cần thiết phải ly bị cáo ra khỏi đời sống chung xã hội, mà cho bị cáo được hưởng mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo P1, bị cáo T đều là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 điều 321 Bộ luật hình sự quy định “người phạm tội có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Bị cáo P1 và bị cáo T là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng gì, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

  • - Đối với số tiền 2.760.000đ là số tiền bị cáo T mua số lô của bị cáo P1, T chưa trả cho P1, đây là khoản tiền sử dụng vào việc đánh bạc đó là công cụ phương tiện phạm tội nên buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền này để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với số tiền 3.200.000đ là số tiền bị cáo T trúng thưởng số lô 71, bị cáo P1 chưa trả cho T, đây là khoản tiền sử dụng vào việc đánh bạc, đó là công cụ phương tiện phạm tội nên buộc bị cáo P1 phải nộp lại số tiền này để tịch thu sung vào ngân sách nhà nước
  • - Cơ quan điều tra đã thu giữ: của Bùi Tiến P1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, gắn sim số 0984.480.136 số imei 353311078741711, đã qua sử dụng; của Phạm Văn T 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE 12Pro, màu xanh gắn sim số 0985.874.409, số IMEI1: 356685110024203, IMEI2: 356685110551718, đã qua sử dụng, P1 và T đã sử dụng điện thoại của mình để đánh lô nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước, còn các sim số điện thoại không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 tờ giấy có ghi các số lô thu giữ của P1 là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần lưu hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01 bút bi mực đen thu của T không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[3]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 (Đối với Bùi Tiến P1); khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 (Đối với Phạm Văn T); điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

  1. Tuyên bố các bị cáo Bùi Tiến P1 và Phạm Văn T phạm tội “Đánh bạc”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Bùi Tiến P1 16 (mười sáu) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 03 (ba) ngày tạm giữ (Từ ngày 19/01/2024 đến ngày 22/01/2024) quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 15 (mười lăm) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án.
    • Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo P1.
    • Bị cáo P1 phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Giao bị cáo P1 cho UBND phường M, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, giám sát, giáo dục và áp dụng công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
    • Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường M, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
    • - Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 03 (ba) ngày tạm giữ (Từ ngày 19/01/2024 đến ngày 22/01/2024) quy đổi thành 09 (chín) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án.
    • Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo T.
    • Bị cáo T phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Giao bị cáo T cho UBND xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, giám sát, giáo dục và áp dụng công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
    • Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Buộc bị cáo Bùi Tiến P1 phải nộp lại số tiền 3.200.000đ (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
    • - Buộc bị cáo Phạm Tiến T2 phải nộp lại số tiền 2.760.000₫ (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của: Bùi Tiến P1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, màu trắng, số imei 353311078741711; Phạm Văn T 01 (một) chiếc điện thoại di động IPHONE 12Pro, màu xanh, số imeil: 356685110024203, số imei2: 356685110551718.
    • - Tịch thu, tiêu hủy của: Bùi Tiến P1 sim số 0984.480.136 và 01 bút bi mực đen; Phạm Văn T sim số 0985.874.409.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Bùi Tiến P1 và Phạm văn T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Phú Thọ;

- VKSND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;

- Công an TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;

- THA HS, DS TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;

- bị cáo;

- UBND P.Minh Nông, TP. Việt Trì, T.Phú Thọ.

- UBND xã Bồ Sao, H.Vĩnh Tường, T.Vĩnh Phúc.

- Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cao Thị Đào

Các bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Đào

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 05/02/2024, tại Phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cao Thị Đ;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Minh

2. Ông Nguyễn Huy T4.

Tiến hành nghị án vụ án hình sự thụ lý số 12/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024 đối với: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D sinh ngày: 03/11/1975; tại: Phú Thọ; nơi ĐKNKTT + chỗ ở hiện nay: Tổ H, khu H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

Căn cứ vào các điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ và không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  2. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.

    Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  3. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và bị cáo, những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều đảm bảo chặt chẽ đúng quy định, quy trình do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  4. Có căn cứ để kết tội bị cáo Nguyễn Thị Kim D phạm tội “Đánh bạc”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  5. Về mức hình phạt:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 06 ngày tạm giữ (Từ ngày 26/11/2023 đến ngày 01/12/2023) quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 12 (mười hai ngày) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án.

    Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo D.

    Bị cáo Nguyễn Thị Kim D phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Giao bị cáo D cho U, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, giám sát, giáo dục và áp dụng công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường U, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.

    Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  6. Về vật chứng:
    • - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.040.000₫ (Bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền ngày 24/01/2024 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (thu qua TK 3949 UNC số 13 ngày 24/01/2024).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của: Nguyễn Thị Kim D 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sam sung Galaxy S20FE, màu xanh ghi, số Imeil: 355728260272601, số Imei2: 356203780272605; T (một) chiếc điện thoại di động OPPO CPH1803, màu đen, Imeil: 865566042760110, Imei2: 865566042760102; V (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng Gold số Imei: 359308067718357; Nguyễn Quốc H2 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO, Reno4 màu đen Imeil: 869474053777238, Imei2: 869474053777220 (đều đã qua sử dụng).
    • - Tịch thu, tiêu hủy của: Nguyễn Thị Kim D sim số 0945828158; Vương Đức T5 sim số 0912787254; của Nguyễn Quốc H2 sim số 0333.433.974.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  7. Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và miễm hình phạt.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  8. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-------------o0o------------

------000-------

Số: 11/2024/TB - TA

V, ngày 05 tháng 2 năm 2024

THÔNG BÁO

KẾT QUẢ XÉT XỬ HÌNH SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

- Căn cứ vào Điều 262 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Thông báo cho UBND phường U, thành phố V, tỉnh Phú Thọ biết kết quả xét xử vụ án hình sự sơ thẩm đối với: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D sinh ngày: 03/11/1975; tại: Phú Thọ; nơi ĐKNKTT + chỗ ở hiện nay: Tổ H, khu H, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ .

Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2024/HSST ngày 05/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn THị Kim D1 phạm tội “Đánh bạc”.
    • Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo được khấu trừ 06 ngày tạm giữ (Từ ngày 26/11/2023 đến ngày 01/12/2023) quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17 (mười bảy) tháng 12 (mười hai ngày) ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V nhận được quyết định thi hành án.
    • Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo D.
    • Bị cáo Nguyễn Thị Kim D phải có nghĩa vụ thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần. Giao bị cáo D cho U, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, giám sát, giáo dục và áp dụng công việc lao động phục vụ cộng đồng đối với bị cáo trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 92 của luật thi hành án hình sự. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường U, thành phố V, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 7.040.000₫ (Bảy triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền ngày 24/01/2024 của chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ (thu qua TK 3949 UNC số 13 ngày 24/01/2024).
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước của: Nguyễn Thị Kim D 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu sam sung Galaxy S20FE, màu xanh ghi, số Imeil: 355728260272601, số Imei2: 356203780272605; T (một) chiếc điện thoại di động OPPO CPH1803, màu đen, Imeil: 865566042760110, Imei2: 865566042760102; V (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng Gold số Imei: 359308067718357; Nguyễn Quốc H2 01 (một) chiếc điện thoại di động OPPO, Reno4 màu đen Imeil: 869474053777238, Imei2: 869474053777220 (đều đã qua sử dụng).
    • - Tịch thu, tiêu hủy của: Nguyễn Thị Kim D sim số 0945828158; Vương Đức T5 sim số 0912787254; của Nguyễn Quốc H2 sim số 0333.433.974.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2024 giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố V và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì thông báo để UBND phường U, thành phố V, tỉnh Phú Thọ biết.

Nơi nhận:

-UBNDphường Thọ Sơn.

- Lưu hồ sơ, văn phòng.

THẨM PHÁN

Cao Thị Đào

Nơi nhận:

- VKSND huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;

- Công an huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;

- THA HS, DS huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ;

- Bị cáo;

- UBND xã An Đạo, Phù Ninh, Phú Thọ;

- Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phùng Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Tiến P và Phạm Văn T phạm tội: "Đánh bạc"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger