TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HS-ST
Ngày 14 tháng 05 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân Mai.
Bà Dương Thị Kim Lan.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh – TP Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đàm Duy Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 14/05/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- TP Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 22/04/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST- HS ngày 14/05/2024, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Lê Văn T - sinh năm: 1985; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn S, xã L, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; H và tên bố: Lê Cát T1 - Sinh năm: 1946 (Đã chết); Họ và tên mẹ: Vũ Thị Đ - Sinh năm: 1952 (Già yếu); A, chị, em ruột: gia đình có 04 anh chị em, bị can là con thứ tư; Vợ: Trần Thị H1 - Sinh năm: 1985 (Đã ly hôn); Con: có 01 con, sinh năm 2007; Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 21/08/2023, bị Chủ tịch UBND xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” mức phạt là 2.500.000 đồng; Tiền án: 01 tiền án. Ngày 13/07/2021, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án, ngày 15/07/2022 bị can chấp hành xong hình phạt và trở về địa phương (Chưa được xóa án tích); 01 tiền án ngày 26/03/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. (Bản án đã có hiệu lực); Bị cáo bị khởi tố hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H.
(Có mặt tại phiên toà)
* Bị hại: Anh Phạm Văn T2 - sinh năm: 1991
Cư trú: thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội
(Vắng mặt tại phiên toà)
* Người chứng kiến: Nguyễn Thị T3 sinh năm:
Cư trú: Thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội (Trưởng thôn)
(Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/11/2023, anh Phạm Văn T2 - sinh năm: 1991 (ở thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội) có đơn trình báo Công an xã L về việc: ngày 17/11/2023 gia đình anh T2 bị kẻ gian trộm cắp chiếc xe mô tô Honda Wave, sơn màu đỏ BKS: 30Z3 - 3837 ở sân trước cửa nhà, trị giá tài sản chiếc xe khoảng 10.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác minh đã làm rõ đối tượng Lê Văn T có hành vi trộm cắp tài sản của anh T2, cụ thể như sau:
Đầu tháng 11/2023, Lê Văn T là người làm thuê xây dựng cho anh Đỗ Đình Q, sinh năm: 1978 (ở thôn Y, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội). Do hết việc nên ngày 14/11/2023, anh Q đã mời T về nhà ở thôn Y, xã L, huyện M chơi. Sáng ngày 17/11/2023, tại nhà anh Q sau khi ngủ dậy do không có tiền tiêu nên T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Thịnh thay quần áo, đội mũ lưỡi trai màu đen, mặc áo khoác bò màu xanh bên trong mặc áo len màu đen, quần dài bằng vải bò màu đen, đi dép lê màu đen kẻ sọc màu trắng, T đi bộ một mình ra đường xem có ai để tài sản sơ hở, sẽ trộm cắp. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, T đi bộ đến khu vực thôn B, xã L, huyện M, khi đi qua nhà anh Phạm Văn T2, T phát hiện thấy cổng không đóng, bên trong sân để 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đỏ BKS: 30Z3 – 3837. Thịnh quan sát thấy không có người trông nom nên T đã nảy sinh ý định vào trộm cắp tài sản chiếc xe mô tô trên. T đi bộ qua cổng nhà anh T2 02 lần, quan sát thấy không có người trong nhà, T đi bộ vào sân, thấy chìa khoá điện cắm ở ổ khoá chiếc xe mô tô. T dắt chiếc xe mô tô ra khỏi cổng nhà, ngồi lên mở khoá điện, nổ máy rồi điều khiển chiếc xe đi về hướng xã T rồi đi về nội thành Hà Nội. Tại khu vực nội thành Hà Nội, T gặp 01 người đàn ông khoảng 50 tuổi (không biết biết tên, tuổi và địa chỉ cụ thể). T nói với người đàn ông này, chiếc xe mô tô của mình đã bị mất giấy tờ xe, do có việc gấp cần tiền nên muốn bán lại chiếc xe với giá 2.500.000 đồng. Sau khi kiểm tra chiếc xe mô tô, người đàn ông đã mua chiếc xe và trả cho T số tiền là 2.500.000 đồng. Số tiền này T tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài hành vi trộm cắp tài sản ở huyện M, ngày 10/12/2023 T còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại thôn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố bị can và bắt tạm giam Lê Văn T về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 04/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M có công văn trao đổi với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T về việc nhập vụ án. Ngày 05/03/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T có công văn phúc đáp do vụ án Lê Văn T đã kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ đề nghị truy tố nên không tiến hành nhập vụ án.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M, Lê Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Ngày 13/07/2021, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 16 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này của bị can được xác định là Tái phạm.
* Vật chứng thu giữ: Không;
Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 09/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đỏ đen, mang BKS: 30Z3 - 3837, số máy HC12E1272545, số khung RLHHC12199Y072156 xe đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là: 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, sơn màu đỏ, BKS: 30Z7-3837 cùng giấy đăng ký chiếc xe ngày 04/01/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện M đã ra Quyết định truy tìm vật chứng, tuy nhiên đến nay không thu hồi được.
Đối với người đàn ông T khai đã bán chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, sơn màu đỏ, BKS: 30Z7-3837 trộm cắp của anh T2 cho người đàn ông ở khu vực nội thành thành phố Hà Nội: quá trình điều tra xác minh không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
*Về trách nhiệm dân sự:
Anh Phạm Văn T2 yêu cầu đề nghị Lê Văn T phải bồi số tiền là 4.000.000 đồng (đến nay chưa bồi thường).
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại bản cáo trạng số: 51/CT-VKS ngày 17/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo chưa nộp khắc phục hậu quả.
Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn, bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế.
* Về tội danh và hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: khoản 1 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38, điều 56 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo:
Đề nghị xử phạt:
- Bị cáo Lê Văn T mức án từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù giam. Tổng hợp 20 tháng tù tòa án Thanh trì. Buộc chấp hành hình phạt tù chung là 32 (ba mươi hai) đến 35 (ba mươi lăm) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại là 3.500.000đ theo kết luận định giá.
- Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xét.
* Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
* Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] - Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã truy tố.
HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 7 giờ 00' ngày 17/11/2023, tại thôn B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội, Lê Văn T đã có hành vi trộm cắp: 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, Biển kiểm soát 30Z3 - 3837 của anh Phạm Văn T2. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.500.000 đồng.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Mê Linh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.
[3] Xét nhân thân bị cáo: 01 tiền án chưa xóa, 04 tiền sự (03 tiền sự đã xóa, 01 tiền sự chưa xóa). Lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm.
[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo chưa bồi thường khắc phục hậu quả.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Tái phạm.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- + Bị cáo thành khẩn khai báo.
- + Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
- + Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn.
- + Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.
Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: theo điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đủ đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.
Xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù giam đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại là 3.500.000đ theo kết luận định giá.
- Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xét.
[7] Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông T khai đã bán chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave, sơn màu đỏ, BKS: 30Z7-3837 trộm cắp của anh T2 cho người đàn ông ở khu vực nội thành thành phố Hà Nội: quá trình điều tra xác minh không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật. Hội đồng xét xử không xét.
[8] Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: Khoản 1, điều 173; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1; khoản 2 điều 51; điều 38; điều 56 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo: Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Lê Văn T 12 (mười hai) tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt 20 (hai mươi) tháng tù của bản án số 135/2024/HSST ngày 26/03/2024 của tòa án nhân dân huyện Thanh trì, Hà Nội. Tổng hợp hình phạt tù chung cả hai bản án là 32 (ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47, điều 48 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Điều 357; điều 468 BLDS 2015; Cv Số: 99/TANDTC-KHXX ngày 01 tháng 7 năm 2009.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại là 3.500.000₫ (ba triệu năm trăm ngàn) đồng theo kết luận định giá.
- Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Không thu hồi được nên không xét.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.
Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thanh Phong |
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn Thịnh trộm cắp xe máy
