|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 48/ 2024/HSST Ngày 13/9/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đại Đồng và ông Nguyễn Tiến Bộ
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Trang - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2024/TLST - HS ngày 14/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST - HS ngày 22/8/2024 và Thông báo hoãn phiên tòa số 16/TB – TA ngày 04/9/2024 đối với các bị cáo:
- Đỗ Văn H, sinh năm 1951, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La; nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị S; có vợ Đặng Thị D (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/9/1965 bị Công an tỉnh S bắt về hành vi trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024. Có mặt.
- Trần Văn T, sinh năm 1993, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Q và bà Trần Thị T1; có vợ Nguyễn Thị C và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2024. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu S1, sinh năm 1968.
Trú tại: Xóm D, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 01/4/2024, Trần Văn T đi xe ôm đến khu vực Cầu T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội mua của 01 người nam giới (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) 6.000.000 đồng được 03 chỉ Heroine và 01 cân điện tử, mục đích để về chia nhỏ số ma túy ra bán kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà, sử dụng dao lam và cân điện tử để chia nhỏ số ma túy mua được thành các gói nhỏ để bán với giá 100.000 đồng/1 gói. Trong ngày 01/4/2024 và ngày 02/4/2024, T đã bán ma túy cho Đỗ Văn H, cụ thể:
Chiều ngày 01/4/2024, Đỗ Văn H sử dụng số điện thoại 0846.489.xxx của mình gọi điện cho T để hỏi mua ma túy, T đồng ý. Sau đó, H mượn xe đạp (loại xe mini màu đỏ của anh Nguyễn Hữu S1, sinh năm 1968, trú tại xóm D, thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội (là hàng xóm của H) để đi đến nhà T mua ma túy. Đến nơi, H gặp T đang đứng ở khu vực cửa sổ nhà T, H hỏi mua 100.000 đồng, được T bán cho 01 gói ma túy. H cầm số ma túy mang về sử dụng hết.
Chiều ngày 02/4/2024, Đỗ Văn H tiếp tục sử dụng số điện thoại 0846.489.xxx của mình gọi điện cho T để hỏi mua ma túy nhưng T không nghe máy. Sau đó, H sử dụng xe đạp đi đến nhà T để mua ma túy. Đến nơi, thấy cổng mở, H đi vào thì gặp T đang đứng ở khu vực sân. H hỏi mua 100.000 đồng, T đồng ý và bán cho 01 gói ma túy. H cất ma túy trong túi quần bên trái và đạp xe về nhà. Khi đi đến đoạn đường ven sông thuộc thôn Đ, xã A thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ và thu giữ của H gồm:
- + 01 gói giấy bên ngoài bọc nilông bên trong chứa chất bột màu trắng.
- + 01 điện thoại di động màu đen, nhãn Iphone đã quan sử dụng.
Cùng ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn T, ở thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội thu giữ trong phòng ngủ của nhà T gồm:
- + 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 03 x 05cm, bên trong chứa chất bột màu trắng.
- + 01 cân điện tử đã qua sử dụng.
- + 01 điện thoại di động Nokia màu đen, gắn sim số 0363129563.
- + 01 điện thoại di động Iphone màu ghi, gắn sim số 0396851111.+ Số tiền 500.000 đồng.
* Tại kết luận giám định số: 2574/KL - KTHS ngày 11/4/2024 của phòng K Công an Thành phố H đã kết luận:
- - Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy ( bọc ngoài bằng nilông) là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,141gam (thu giữ của Đỗ Văn H).
- - Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilông là ma túy loại Heroin, khối lượng 2,651gam (thu giữ của Trần Văn T).
- - 01 cân điện tử có dính ma túy loại Heroin (thu giữ của Trần Văn T).
* Tại bản cáo trạng số 39/CT - VKS - MĐ ngày 13/8/2024 của VKSND huyện Mỹ Đức đã truy tố: Đỗ Văn H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Trần Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS.
Tại phiên toà:
Các bị cáo Đỗ Văn H, Trần Văn T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm o, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Đỗ Văn H từ 01 năm đến 02 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Trần Văn T từ 07 đến 08 năm tù.
Và không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
* Về vật chứng của vụ án:
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 phong bì mẫu vật được niêm phong có chữ ký của Đỗ Văn H và cán bộ giám định.
- + 01 phong bì mẫu vật được niêm phong có chữ ký của Trần Văn T và cán bộ giám định.
- + 01 cân điện tử đã qua sử dụng.
- Đề nghị tịch thu, phát mại và sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động màu đen, nhãn Iphone, số IMEI: 353813080256323, gắn sim số điện thoại: 0846.489.xxx thu giữ của Đỗ Văn H.
- + 01 điện thoại di động Nokia màu đen, gắn sim số 0363129563 thu giữ của Trần Văn T.
- + 01 điện thoại di động Iphone màu ghi, gắn sim số 0396851111 thu giữ của Trần Văn T.
- - Số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) mà bị cáo T bán ma túy mà có.
Ngoài ra còn đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với các bị cáo; các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
Về nội dung vụ án: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với Kết luận điều tra, Cáo trạng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ căn cứ để khẳng định: Ngày 01/4/2024 Trần Văn T đã mua 6.000.000 đồng ma túy loại Heroin và cân điện tử của một người không quen biết, với mục đích để sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện. Ngày 01/4/2024 T đã trực tiếp bán ma túy cho Đỗ Văn H 01 gói ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng để H sử dụng. Ngày 02/4/2024 T lại trực tiếp bán ma túy cho Đỗ Văn H 01 gói ma túy loại Heroin với giá 100.000 đồng, H chưa kịp sử dụng thì bị Công an bắt quả tang với khối lượng 0,141gam Heroin. Khám xét nơi ở của Trần Văn T Cơ quan Công an thu giữ 2,651gam Heroin, 01 cân điện tử của T. Hành vi của bị cáo Đỗ Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tại điểm b khoản 2 Điều 251của Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương mà còn là nguyên nhân dẫn đến các vi phạm pháp luật khác, khiến dự luận bất bình lên án. Bị cáo Trần Văn T phạm tội với mục đích vụ lợi bất chính; bị cáo Đỗ Văn H phạm tội với mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân; hơn nữa do tính chất nguy hại của loại tội phạm này, nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo khắc phục sai phạm, cũng như để răn đe phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đỗ Văn H khi phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên mà áp dụng điểm o, s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị báo không có.
Do các bị cáo xuất thân từ nghề nông, không có nghề nghiệp và thu nhập có mức độ, không có điều kiện để thi hành, nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với:
- + 01 phong bì mẫu vật được niêm phong có chữ ký của Đỗ Văn H và cán bộ giám định. 01 phong bì mẫu vật được niêm phong có chữ ký của Trần Văn T và cán bộ giám định và 01 cân điện tử đã qua sử dụng đều là tang vật của vụ án, nên tịch thu để tiêu hủy.
- + 01 điện thoại di động màu đen, nhãn Iphone, số IMEI: 353813080256323, gắn sim số điện thoại: 0846.489.xxx thu giữ của Đỗ Văn H. 01 điện thoại di động N màu đen, gắn sim số 0363129563 thu giữ của Trần Văn T. 01 điện thoại di động Iphone màu ghi, gắn sim số 0396851111 thu giữ của Trần Văn T đều liên quan đến tội phạm, nên tịch thu, phát mại và sung vào ngân sách Nhà nước.
- + Số tiền 500.000 đồng mà bị cáo T bán ma túy mà có, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với người nam giới mà bị cáo T khai đã bán ma túy cho T ở khu vực cầu T, thị trấn Đ, huyện M Thành phố Hà Nội. Cơ quan điều tra đã điều tra nhưng không làm rõ được, Viện kiểm sát không đề nghị, nên Tòa không xét.
Đối với ông Nguyễn Hữu S1 là người cho bị cáo Đỗ Văn H mượn chiếc xe đạp xe mini màu đỏ, ông S1 không biết việc H mượn xe để đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe đạp mini này cho ông S1 là hợp lẽ.
Ngoài ra buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Mua bán trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm o, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.
-
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS:
- - Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên đối tượng Đỗ Văn H, giám định viên, chữ ký họ tên cán bộ niêm phong (không kiểm tra bên trong).
- + 01 phong bì mẫu vật có chữ ký họ tên đối tượng Trần Văn T, giám định viên, chữ ký họ tên cán bộ niêm phong. 01 cân điện tử đã qua sử dụng (không kiểm tra bên trong).
- - Tịch thu, phát mại và sung vào ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, số S: KXPY3F6NGX, bên trong có gắn sim, thu giữ của Trần Văn T (không lên nguồn).
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus, số S: C38SNSKRHFY7, bên trong gắn sim, thu giữ của Đỗ Văn H (không lên nguồn).
- + 01 điện thoại di động N, mã code: 23KIG74BH00, bên trong gắn 01 sim, thu giữ của Trần Văn T (không lên nguồn).
- + Số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) mà bị cáo T bán ma túy mà có.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức ngày 29/8/2024 và ủy nhiệm chi ngày 29/8/2024).
- - Tịch thu, tiêu hủy:
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đỗ Văn H, Trần Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lã Phi Hùng |
Bản án số 48/2024/HSST ngày 13/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 48/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn H cùng ĐP mua bán trái phép chất ma túy
