Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 12 – 8 – 2024

V/v: "Ly hôn"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước
  2. Bà Nguyễn Bạch Nhạn

Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc, Thư ký viên Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: chị Trần Kim A, sinh năm 1991; nơi cư trú: số D, liên kế 09, đường số G, Khu dân cư E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nơi làm việc: số D, đường V, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
  • Bị đơn: anh Trần Bá P, sinh năm 1983; địa chỉ: số D, liên kế I, đường số G, Khu dân cư E, Phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 4 năm 2024 và các lời khai tại Toà án nguyên đơn chị Trần Kim A trình bày:

  • Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P quen biết với nhau được một thời gian, mới đi đến hôn nhân, chị và anh P có đăng ký kết hôn vào ngày 22/12/2020 tại U, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi tổ chức lễ cưới, vợ chồng về chung sống với nhau được khoảng 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân, do anh P nóng tính, gia trưởng và không chăm lo cho gia đình; chị và anh P cách sống cả hai không hợp nhau, anh và chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn tiền bạc, cãi vã, có lần chị bị anh P đánh.
  • Về con chung: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P không có con chung.
  • Về tài sản chung: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về nợ chung: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P không có nợ chung

Nay chị Trần Kim A yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Kim A xin ly hôn với anh Trần Bá P.
  • Về con chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  • Về tài sản chung: tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  • Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn anh Trần Bá P: đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh P tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên toà nhưng anh P đều vắng mặt không có lý do, cũng như không có văn bản trả lời ý kiến cho Tòa án biết về việc chị Kim A xin ly hôn với anh P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P là vợ chồng trong thời gian chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị Kim A xin ly hôn với anh P. Cho nên, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: vụ án trên được xác định quan hệ pháp luật theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn anh P có địa chỉ thường trú tại thành phố S theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.

[3] Về sự vắng mặt của anh Trần Bá P: thấy rằng, anh P đã được triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do; căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh P.

Về nội dung:

[4] Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P kết hôn vào năm 2020, có đi đăng ký kết hôn tại U, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/12/2020. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc; tại thời điểm đăng ký kết hôn chị Kim A và anh P đều đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên hôn nhân của chị Kim A và anh P là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận.

[5] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Kim A: thấy rằng, theo lời trình bày của chị Kim A, sau khi tổ chức lễ cưới, vợ chồng về chung sống với nhau được khoảng 01 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng sống không hạnh phúc. Nguyên nhân, do anh P nóng tính, gia trưởng và không chăm lo cho gia đình; chị và anh P cách sống cả hai không hợp nhau, anh và chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn tiền bạc, có lần chị bị anh P đánh. Tại phiên toà Hội đồng xét xử cũng đã động viên chị Kim A hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, nhưng chị vẫn kiên quyết ly hôn. Từ những phân tích trên cho thấy thực trạng mâu thuẫn giữa chị Kim A và anh P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; hiện nay, chị Kim A và anh P mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn thương yêu và chăm sóc lẫn nhau thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Kim A.

[6] Về con chung: chị Trần Kim A trình bày, trong thời gian sống chung vợ chồng chị không có con chung, con riêng nên chị không yêu cầu xem xét giải quyết. Cho nên, Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về tài sản chung: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P tự thoả thuận, không có yêu cầu Toà án giải quyết vụ án. Cho nên, Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về nợ chung: chị Trần Kim A trình bày không có nợ chung và cũng không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, nên Toà án không đặt ra xem xét giải quyết.

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ và khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Kim A phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trần Kim A đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng: Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Áp dụng: điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Kim A được ly hôn với anh Trần Bá P.
  2. Về con chung: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P, không có con chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: chị Trần Kim A và anh Trần Bá P tự thoả thuận, Toà án không có xem xét giải quyết.
  4. Về nợ chung: Toà án không có xem xét giải quyết.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Trần Kim A phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Kim A đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001691 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng; chị Kim A đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND -TPST;
  • - Chi cục THADS-TPST;
  • - TAND - TST;
  • - UBND Phường 2, TPST, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Kim A xin ly hôn với anh Trần Bá P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger