Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12/7/2024

“V/v Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài

Bà Đàm Thị Thanh Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Nhật Lệ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2024 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; nơi ĐKHKTT: khu B, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: ông Phung Van H, sinh năm 1954; quốc tịch: Anh; địa chỉ: C M, C, London SE5 OLE, A. Vắng mặt (có đơn đề nghị vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: ngày 10/01/2023, bà Nguyễn Thị T và ông Phung Van H đăng ký kết hôn tại UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn bà T và ông H có chung sống với nhau một thời gian ngắn tại phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau đó ông H về nước A và có đi đi về về Việt Nam trong thời gian đầu. Nhưng trong thời gian đó bà T và ông H đã phát sinh nhiều mâu thuẫn do chênh lệch quá nhiều về văn hoá, về lối sống. Ông H cũng không về Việt Nam thăm bà T nữa, bà T xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho bà T được ly hôn ông H.

Về con chung, về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Tại bản tự khai của bị đơn ông phung V (được hợp pháp hoá lãnh sự của Đ tại Vương quốc Anh và B Len ngày 20/5/2024), thể hiện nội dung: ngày 10/01/2023, ông Phung Van H và bà Nguyễn Thị T, địa chỉ: khu B, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam đăng ký kết hôn tại UBND thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn ông H có ở lại Việt Nam chung sống với bà T một thời gian ngắn, sau đó ông H về lại nước A và có trở lại Việt Nam thăm bà T 1-2 lần. Trong thời gian chung sống, hai bên thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã do khác

nhau về văn hoá, thói quen sinh hoạt. Sau đó ông H không về Việt Nam thăm bà T nữa. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài. Ông H đồng ý ly hôn với bà T, đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

Do thời gian này ông Phung Van H chưa thể về Việt Nam để giải quyết ly hôn với bà T được. Nên đề nghị Tòa án cho ông H vắng mặt tại các buổi làm việc, buổi hoà giải và phiên tòa xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn”; bị đơn ông Phung Van H mang quốc tịch A, hiện đang sinh sống tại A. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn ông Phung Van H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã có bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T và ông Phung Van H đăng ký kết hôn ngày 10/01/2023, tại Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh được một thời gian ngắn thì ông H trở về nước A sinh sống và có về Việt Nam thăm bà T vài lần nữa. Sau đó do khoảng cách địa lý, bà T và ông H thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, cả hai đều đồng ý ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: bà T và ông H không còn sống chung, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông H.

[2.2] Về con chung: bà Nguyễn Thị T và ông Phung Van H đều xác định không có.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị T và ông Phung Van H đều xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.

[1] Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Phung Van H

[2] Về con chung: không có.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có.

[4] Về án phí: bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005844 ngày 19/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: bà Nguyễn Thị T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; ông Phung Van H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND thành phố Móng Cái,
  • tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thi T - Phung Van H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger