Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CƯ M'GAR

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/DS-ST

Ngày: 12/7/2024

“V/v tranh chấp đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dự

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Y Tha Mlô

- Ông Trương Minh Mẫn

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 389/TLST-DS ngày 27/12/2023, về việc “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-DS ngày 06/6/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QĐST-DS ngày 21/6/2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Ông Phạm V (có mặt)
  • Địa chỉ: Số nhà H, đội C, thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
  • * Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H (có mặt)
  • Địa chỉ: Số nhà E P, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • - Bà Trương Thị N (có mặt)
  • Địa chỉ: Số nhà H, đội C, thôn A, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
  • - Bà Mạnh Thị Thu H1 (vắng mặt)
  • Trú tại: Thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm V trình bày:

Năm 1992 ba tôi có mua một lô đất chợ số 4, mặt tiền với giá 1.630.000 đồng, có làm một cái nhà cho tôi hớt tóc, năm 1994 ông bán lại cho ông Nguyễn Thành S, sau đó ông S bán lại cho bà H1 năm 2020 ban thanh tra huyện lập danh sách đền bù, do phiếu thu tiền đăng ký lô đất chợ mang tên cha tôi là ông Phạm Y nên bà H1 có nhờ tôi đứng ra nhận tiền đền bù.

Ngày 08/02/2021, biết được tin tôi nhận tiền nên bà H và gia đình xuống nhờ ba tôi với tôi giữ lại số tiền 220.000.000 đồng, lý do là mẹ bà H1 là Nguyễn Thị B có vay tiền của bà H nhưng bà nói không sao hết để tạo sự tin tưởng bà H điện cho cô có tên V1 dẫn tôi đến gặp ông Thẩm phán Nguyễn Quang C, ông C gật đầu, do đó tôi mới đưa tiền cho bà H.

Tôi đã nhiều lần yêu cầu bà H phải trả cho tôi nhưng bà H không chịu trả.

Nay tôi yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Thị H phải trả lại số tiền 220.000.000 đồng và lãi suất theo mức lãi suất ngân hàng từ ngày 24/3/2021 cho đến khi giải quyết xong vụ án.

* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Huỳnh Thị H trình bày:

Năm 2018 tôi có cho bà Nguyễn Thị B, địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vay số tiền 220.000.000 đồng, lãi suất 20%, chúng tôi có viết giấy tay với nhau.

Sau đó bà B nói bể nợ nên không trả nợ được, sau đó tôi có gặp ông Phạm V, ông V nói bà B mới về nhà ông nhờ ông nhận lại lô đất cho bà vì biên lai ông còn đứng tên, cơ quan nhà nước đền bù cho bà B lô đất số tiền 220.000.000 đồng. Sau đó ông V nhận tiền thì ông H2 là chồng bà B có nói ông V viết giấy là ông V nhận tiền đưa bà Mạnh Thị Thu H1, ông V nói ông H2 qua nhà ông V lấy tiền về để trả cho bà Huỳnh Thị H nhưng mà nhiều lần ông H2 không qua nhà ông V lấy tiền. Ông V cũng không dám đưa cho tôi sau đó tôi và ông V báo lên Ủy ban nhân dân xã E để giải quyết, sau đó ông K chủ tịch chỉ chúng tôi qua công an, sau đó công an hướng dẫn chúng tôi kiện ra tòa án để giải quyết, sau đó tôi có báo đến công an huyện, công an huyện cũng hướng dẫn tôi kiện đến Tòa án để giải quyết.

Tôi có kiện bà Nguyễn Thị B tại Tòa án huyện Cư M'gar để giải quyết vào năm 2020, sau đó Tòa án đã giải quyết buộc ông V đưa tiền cho tôi, sau đó tôi nhận tiền từ ông V để khấu trừ số tiền bà B đang nợ tôi. Việc ông V đưa tiền cho tôi là tự nguyện.

Hiện nay tôi xác định số tiền bà B đang nợ đã được ông V trả thay. Tôi nhận số tiền 220.000.000 đồng từ ông V là để khấu trừ số tiền bà B đang nợ tôi. Nay ông V khởi kiện yêu cầu tôi trả lại số tiền 220.000.000 đồng thì tôi không đồng ý.

* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị N trình bày:

Tôi là vợ ông Phạm V tôi có biết chồng tôi có nhận tiền lô đất chợ do nhà nước bồi thường cho bà H1 (do phiếu thu đứng tên ông Phạm Y là cha chồng tôi) sau nhận tiền thì chồng tôi đưa cho bà Huỳnh Thị H số tiền 220.000.000 đồng.

Nay chồng tôi khởi kiện để yêu cầu bà H trả lại số tiền 220.000.000 đồng thì tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của chồng tôi.

* Người có quyền lợi, liên quan bà Mạnh Thị Thu H1 không tham gia tố tụng tại Tòa án.

* Tại phiên tòa: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 220.000.000 và 30.000.000 đồng tiền lãi do ông phải trả số tiền 30.000.000 đồng này cho bà Mạnh Thị Thu H1.

Bị đơn trình bày, bà không đồng ý trả lại số tiền 220.000.000 đồng cho nguyên đơn, bà đề nghị Tòa án giải quyết buộc bà Mạnh Thị Thu H1 phải trả số tiền 220.000.000 đồng cho ông V và đề nghị làm rõ nguồn gốc bà Mạnh Thị Thu H1 nhận tiền đền bù đất tại xã E. Việc ông V đưa tiền cho bà là tự nguyện chứ không ai ép buộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar phát biểu như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền 220.000.000 đồng, không chấp nhận yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn. Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án đòi tài sản, bị đơn có nơi cư trú tại huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Mạnh Thị Thu H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đảm bảo đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo nội dung của giấy nhận tiền đề ngày 24/3/2021 thể hiện nguyên đơn ông Phạm V đưa cho bị đơn bà Huỳnh Thị H số tiền 220.000.000 đồng, theo nội dung giấy nhận tiền thể hiện “Vào ....tháng 2 năm 2021 em dâu tôi có ủy quyền nhờ tôi nhận tiền bồi thường liên quan đến số nợ em dâu tôi là Huỳnh Thị H (vì liên quan đến bà B), do em dâu tôi bận việc không có ở địa phương thường xuyên đi vắng và nhờ tôi lấy tiền gửi dùm, sau khi nhận được số tiền 220.000.000 đồng, tôi giao lại cho em dâu tôi Huỳnh Thị H với số tiền 220.000.000 đồng”.

Xét nguồn gốc của số tiền 220.000.000 đồng nêu trên, quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận số tiền này là tiền do ông Phạm V đứng ra thay bà Mạnh Thị Thu H1 nhận tiền bồi thường của nhà nước cho lô đất chợ tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi ông V nhận tiền thì không đưa cho bà Mạnh Thị Thu H1 mà chuyển cho bà Huỳnh Thị H để khấu trừ nợ của mẹ bà H1 là bà Nguyễn Thị Bến.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và bị đơn đều xác định nguyên đơn ông Phạm V không nợ bà bị đơn bà Huỳnh Thị H khoản tiền nào, việc ông V đưa cho bà H số tiền 220.000.000 đồng là để khấu trừ số tiền mà bà Nguyễn Thị B là mẹ bà Mạnh Thị Thu H1 nợ bà Huỳnh Thị H. Sau khi ông V chuyển tiền cho bà H thì bà Mạnh Thị Thu H1 đã khởi kiện ông Phạm V để yêu cầu ông V trả lại số tiền 220.000.000 đồng. Tại Bản án số 96/2022/DS-PT ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tuyên xử buộc ông Phạm V phải trả cho bà Mạnh Thị Thu H1 số tiền 220.000.000 đồng. Sau đó, ông Phạm V đã có đơn dề nghị giải quyết giám đốc thẩm đối với bản này, tại Thông báo số 417/2022/TB-TA-DS ngày 21/10/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xác định không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn bà Huỳnh Thị H cho rằng các bên có thỏa thuận việc ông V chuyển tiền cho bà để khấu trừ số tiền mà bà Nguyễn Thị B nợ bà, tuy nhiên bà không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh cho việc thỏa thuận này. Như vậy, việc ông V sau khi nhận tiền nhà nước thay cho bà H1, ông đã tự ý chuyển giao số tiền trên cho bà H để khấu trừ nợ của bà mẹ bà H1 là vi phạm quyền tự định đoạt tài sản của bà H1. Hiện nay ông V đã trả số tiền 220.000.000 đồng cho bà Mạnh Thị Thu H1 theo bản án của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, bên cạnh đó các bên đương sự đều thừa nhận ông V không nợ bà H khoản tiền nào, do đó việc bà H nhận số tiền 220.000.000 đồng từ ông V là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp của ông V. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Vân b bà Huỳnh Thị H phải trả cho ông V số tiền 220.000.000 đồng.

Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi là 30.000.000 đồng, đây là số tiền lãi mà ông phải trả cho bà Mạnh Thị Thu H1 trong quá trình thi hành Bản án số 96/2022/DS-PT ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Hội đồng xét xử thấy rằng, giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn không phải là giao dịch dân sự vay mượn tài sản với nhau, đây là tranh chấp về đòi tài sản, hơn nữa số tiền 30.000.000 đồng tiền lãi ông phải trả cho bà Mạnh Thị Thu H1 là trách nhiệm thi hành án của ông đối với Bản án số 96/2022/DS-PT ngày 18/5/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk không liên quan đến việc đòi tài sản giữa ông và bà H, do đó Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[4] Đối với việc bị đơn bà Huỳnh Thị H đề nghị làm rõ nguồn gốc số tiền bà Mạnh Thị Thu H1 nhận tiền bồi thường đất tại E, huyện C thì không thuộc phạm vi giải quyết của vụ án này nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn phải chịu án phí đối với phần yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, cụ thể: 30.000.000 đồng x 5% = 1.500.000 đồng.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định pháp luật, cụ thể: 220.000.000 đồng x 5% = 11.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Áp dụng khoản 2 Điều 165; Điều 116; Điều 579; Điều 580 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Vân.

Buộc bà Huỳnh Thị H phải trả cho ông Phạm V số tiền 220.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2] Không chấp một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm V về việc yêu cầu bị đơn bà Huỳnh Thị H trả số tiền lãi 30.000.000 đồng.

[3] Về án phí:

  • Nguyên đơn ông Phạm V phải chịu 1.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 5.500.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2021/0014802 ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk. Ông Phạm V còn được nhận lại 4.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí.
  • Bà Huỳnh Thị H phải chịu 11.000.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7 và điều 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Cư M'gar;
  • - Chi cục THADS huyện Cư M'gar;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VPCQ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Văn Dự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 48/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger