TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2024 V/v : Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Luận
Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Phương - Thư ký Tòa án thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ Hôn nhân gia đình thụ lý số 159/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXX-ST ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1982 “có mặt”
- Bị đơn: Anh Nguyễn Huy Đ, sinh năm 1981 “vắng mặt”
ĐKHK: SN 51 P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
Nơi ở hiện nay: P306 nhà 17, chung cư Đông Phát, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Trú tại: SN E P, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Huy Đ kết hôn với nhau vào năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Đ thiếu trách nhiệm với gia đình và do anh chị bất đồng quan điểm sống cũng như về kinh tế nên dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, tình cảm ngày càng rạn nứt. Mâu thuẫn của anh chị đã được gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nênanh chị đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2021 cho đến nay. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
Về con: Anh chị có 01 con chung: cháu Nguyễn Huy N, sinh ngày 23/8/2009. Ly hôn, chị xin được nuôi cháu N và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Huy Đ trình bày:
Về hôn nhân: Thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn anh đồng ý như chị H trình bày. Anh thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống hàng ngày và cũng do kinh tế khó khăn dẫn đến tình cảm vợ chồng dạn nứt và đã sống ly thân nhau. Mặc dù, anh và chị H đã sống ly thân nhau nhưng anh vẫn thường xuyên qua lại để chăm sóc con. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh xét thấy tình cảm vẫn còn nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp chị Hoa cương q ly hôn anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con: Anh đồng ý có 01 con chung như chị H trình bày, nếu phải ly hôn anh xin được nuôi cháu và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 10/6/2024, anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt đồng thời anh thay đổi quan điểm là đồng ý ly hôn và đồng ý giao cháu N cho chị H nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Tại phiên tòa chị H vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Đối với bị đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bội luật Dân sự giải quyết vắng mặt anh Đ là đúng quy định.
Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố T. Do đó, Tòa án thành phố T thụ lý và giải quyết là đúng quy định. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với anh Đ để tham gia phiên tòa nhưng anh đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Nguyễn Huy Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án, anh chị đều thừa nhận vợ chồng chung sống có xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Mặc dù, lúc đầu anh Đ không đồng ý ly hôn nhưng sau đó anh đã thay đổi quan điểm và đồng ý ly hôn.Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện: anh chị chung sống có xảy ra mâu thuẫn, tuy địa phương không biết rõ mâu thuẫn của anh chị nhưng chị H đã chuyển đi nơi khác ở còn anh Đ hiện vẫn đang ở tại địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặt khác, anh chị đều thống nhất ly hôn nên công nhận việc thuận tình ly hôn của anh chị, căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con: Anh chị có 01 con chung Nguyễn Huy N, sinh ngày 23/8/2009, nguyện vọng của cháu cũng xin được ở với chị H. Ly hôn, anh Đ thống nhất giao cháu chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Xét việc thỏa thuận của anh chị là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật và nguyện vọng của cháu N nên chấp nhận.
Về tài sản, công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 đồng, anh Đ pải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ 300.000 đồng theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/QH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điều 55; Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị H và anh Nguyễn Huy Đ.
Về con: Anh chị có 01 con chung: cháu Nguyễn Huy N, sinh ngày 23/8/2009. Giao cháu N cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Anh Đ có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không được ai cản trở.
Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Chị Trần Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai số 0001202 ngày 05/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thanh Hóa (chị H đã nộp đủ án phí). Anh Đ phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
Chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị T |
Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hôn nhân gia đình
