Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 12/6/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Hân
  • Ông Nguyễn Văn Giang
  • Thư ký phiên tòa: bà Lục Thanh Hương- Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh N, tên gọi khác: không; sinh ngày: 30/01/1980, tại: C, Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: thôn S, ngõ B Đ, khu B, phường T, thành phố M, Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy G và bà Bùi Thị T; có chồng và 02 con; tiền án; tiền sự: chưa; Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 19/12/2023, bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M, có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng: Phạm Minh T1, Lê Thị N1;

- Người chứng kiến: Phạm Ngọc T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Minh N thuê căn nhà số A, ngõ B Đ thuộc khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh của bà Lê Thị N1 để ở và kinh doanh bán dầu gió và cao dán (do Việt Nam sản xuất). Trong thời gian này, do thấy một số khách du lịch hỏi mua thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất, nên N nảy sinh ý định mua thuốc lá về bán kiếm lời. Sau đó, N đi đến khu vực có các quán bán nước chè trên đường T thuộc phường T, thành phố M để tìm mua thuốc lá. Tại đây, N gặp và quen biết người đàn ông tên là H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) có thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất bán. Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến trước ngày 19/12/2023, tại khu vực phía sau khách sạn M thuộc phường T, thành phố M, N đã nhiều lần mua thuốc lá điếu của H1, mỗi lần từ 30 đến 40 cây, với giá 100.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LIGUN, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING và 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LOTUS (còn gọi là Sen Xanh do Việt Nam sản xuất). Sau khi mua được thuốc lá N đem về nhà thuê ở cất giấu và bán khi có người hỏi mua. Đồng thời, N còn đem thuốc lá đến khu vực đường T, phường T, thành phố M để bán cho khách du lịch. Tại đây, vào khoảng tháng 5/2023, N gặp Phạm Minh T1 (là khách du lịch) và nói cho T1 biết là N có thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất bán, cả hai thỏa thuận, với giá 130.000 đồng/cây thuốc lá điếu CHUNGHWA, 110.000 đồng/cây thuốc lá điếu LIGUN, 110.000 đồng/cây thuốc lá điếu FURONGWANG, 100 đồng/cây thuốc lá điếu LOTUS và khi T1 đặt mua, N sẽ đóng gói rồi gửi chuyển phát nhanh qua Bưu cục 29 Ngô Gia T3, thành phố M, đến số nhà S đường A KĐT L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cho T1 và nhận tiền qua số tài khoản 0551000260060 mở tại Ngân hàng V của N.

Ngày 09/12/2023, T1 liên hệ qua ứng dụng Zalo với N đặt mua 144 cây = 1.440 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, N đồng ý bán. Đến khoảng 14 giờ, ngày 19/12/2023, N cho 144 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA vào 02 thùng cát tông, rồi cho vào 01 bao tải dứa màu xanh và bê ra khu vực trước cổng nhà để chờ thuê xe ôm chở đến Bưu cục chuyển phát nhanh, gửi cho T1 thì bị Công an thành phố M kiểm tra, bắt giữ. Khi bị kiểm tra, N đã tự nguyện giao nộp 538 cây = 5.380 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu chữ nước ngoài các loại, loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 bao tải dứa màu xanh, bên trong có 02 thùng cát tông có cùng kích thước (44x28x60)cm, bên trong mỗi thùng có chứa 72 cây = 720 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, màu đỏ, có mã vạch 6901028074148, tổng cộng là 144 cây = 1.440 bao.
  • 144 cây = 1.440 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, màu đỏ, có mã vạch 6901028074148.
  • 144 cây = 1.440 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, màu đỏ-vàng, có mã vạch 6901028212229.
  • 100 cây = 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, màu đỏ, có mã vạch 6901028075022.
  • 100 cây = 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu LIGUN, màu nâu.
  • 50 cây = 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG, màu vàng.

Tổng cộng là 682 cây = 6.820 (Sáu nghìn tám trăm hai mươi) bao thuốc lá điếu, loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao.

Ngoài ra, còn tạm giữ của N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, gắn sim có số thuê bao 0862.599.883.

Tại Chứng thư giám định về tình trạng vànguồn gốc số: 23D06GCV00369-01 ngày 26/12/2023, của V1, kết luận: lô hàng gồm 682 cây = 6.820 bao thuốc lá điếu, gồm các nhãn hiệu CHUNGHWA, LIGUN, FURONGWANG ghi thu của Nguyễn Minh N, gửi giám định, không sản xuất tại Việt Nam. Lô hàng thuốc lá điếu trên, đều bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng.

Bản Cáo trạng số 484/CT-VKSMC ngày 13/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Minh N về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Nguyễn Minh N khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, N khai đã bán thuốc lá điếu cho khách du lịch và cho T1 nhiều lần trước đó, nhưng không nhớ rõ số lượng, chủng loại cụ thể. Việc giao dịch chuyển khoản để thanh toán tiền thuốc lá những lần trước đó, do có nhiều giao dịch, có giao dịch nhận, chuyển tiền thuốc lá, có giao dịch chuyển tiền mua cao dán và dầu gió, nên không nhớ rõ giao dịch nào là giao dịch thanh toán tiền thuốc lá. Bị cáo xác định điều luật, khung hình phạt mà Cáo trạng truy tố hoàn toàn đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Về xử lý vật chứng: đối với 6.820 bao thuốc lá điếu các loại đã bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố M đã ra Quyết định tiêu hủy. Số vật chứng còn lại, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định.

Người chứng kiến Phạm Ngọc T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ thể hiện: 14 giờ 00 phút ngày 19/12/2023 anh được lực lượng công an mời tham gia chứng kiến việc kiểm tra thu giữ tang vật của Nguyễn Minh N, sinh năm 1980; nơi thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: số A ngõ B Đ, khu B, phường T, thành phố M, gồm: 682 (sáu trăm tám mươi hai) cây = 6.820 (sáu nghìn tám trăm hai mươi) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu các loại. N khai nhận toàn bộ số thuốc lá điếu trên do nước ngoài sản xuất và không có hoá đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Công an đã đưa toàn bộ tang vật cùng người vi phạm về trụ sở lập biên bản để xử lý theo quy định.

Lời khai của người làm chứng Phạm Minh T1 và Lê Thị N1 có trong hồ sơ xác định: anh T1 khai từ tháng 5/2023 đến tháng 12/2023 anh là người đặt mua cao dán, dầu gió và thuốc lá điếu của N nhiều lần, không nhớ rõ cụ thể số lượng bao thuốc lá điếu đã nhận. Đến ngày 09/12/2023 sau khi bán hết thuốc lá, anh liên hệ và đặt mua của Nguyệt 144 cây thuốc lá điếu loại CHUNGHWA= 1.440 bao và yêu cầu N gửi cho anh về địa chỉ số nhà S đường A KĐT L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. N đồng ý và hai bên thoả thuận khi nào anh nhận được hàng thì thanh toán tiền. Anh vẫn chưa nhận được số hàng này. Sau đó anh được biết khi N chuân bị gửi hàng cho anh thì bị Công an phát hiện, bắt giữ. Bà Lê Thị N1 có lời khai: bà là người cho N thuê nhà với giá 3 triệu đồng/1 tháng để ở và hoàn toàn không biết N sử dụng nhà vào mục đích nào khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19/12/2023.

- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

  • + Tịch thu tiêu hủy: 02 thùng cát tông, có cùng kích thước (44x28x60)cm; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 sim điện thoại số: 0862.599.xxx
  • + Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7plus màu đen thu của bị cáo N.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người chứng kiến và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa; xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: hồi 14 giờ, ngày 19/12/2023, tại khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Minh N có hành vi cất giấu trái phép 6.820 (Sáu nghìn tám trăm hai mươi) bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất (trong đó 5.320 bao nhãn hiệu CHUNGHWA, 1.000 bao nhãn hiệu LIGUN và 500 bao nhãn hiệu FURONGWANG), mục đích để bán kiếm lời, bị Công an thành phố M kiểm tra, phát hiện bắt, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh N phạm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước đó là chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển hàng cấm. Bị cáo nhận thức được điều này nhưng chỉ vì hám lợi đã có hành vi tàng trữ thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất với số lượng lớn nhằm mục đích bán kiếm lời, vì vậy cần lên một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: không có.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có bố mẹ chồng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 02 thùng cát tông; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 sim điện thoại số: 0862.599.xxx không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen thu giữ của bị cáo N là công cụ bị cáo dùng liên lạc mua bán thuốc lá, nên cần tịch thu phát mại, nộp ngân sách Nhà nước;

[6] Trong vụ án này có người đàn ông tên là H1, theo N khai là người đã bán thuốc lá điếu nhập lậu cho N, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý;

Nguyễn Minh N có hành vi bán trái phép thuốc lá điếu cho Phạm Minh T1 và T1 có hành vi mua trái phép thuốc lá điếu của N trước đó, quá trình điều tra không xác định được số lượng, chủng loại cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý. Riêng đối Phạm Minh T1 có hành vi đặt mua 1.440 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA của N vào ngày 19/12/2023, mục đích để bán, chưa đến mức xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân thành phố M, xử lý hành chính theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Lê Thị N1 (chủ nhà) không biết việc N cất giấu thuốc lá điếu để bán; Bưu cục chuyển phát nhanh không biết việc N trà trộn thuốc lá điếu trong cao dán và dầu gió, không có căn cứ để xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Minh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. [8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Minh N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 19/12/2023.
  2. Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy: 02 thùng cát tông; 01 bao tải dứa màu xanh; 01 sim điện thoại số: 0862.599.xxx
    • + Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu đen thu của bị cáo N.

    Số vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 88/2024/THA ngày 14/5/2024.

  3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Nguyễn Minh N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - HSNV CA thành phố Móng Cái;
  • - THADS thành phố Móng Cái;
  • - CQTHAHS, CQĐT - CA thành phố Móng Cái;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh.
  • - Các bị cáo; người có qlnvlq;
  • - THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 4/2023, Nguyễn Minh N thuê căn nhà số A, ngõ B Đ thuộc khu B, phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh của bà Lê Thị N1 để ở và kinh doanh bán dầu gió và cao dán (do Việt Nam sản xuất). Trong thời gian này, do thấy một số khách du lịch hỏi mua thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất, nên N nảy sinh ý định mua thuốc lá về bán kiếm lời. Sau đó, N đi đến khu vực có các quán bán nước chè trên đường T thuộc phường T, thành phố M để tìm mua thuốc lá. Tại đây, N gặp và quen biết người đàn ông tên là H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) có thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất bán. Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến trước ngày 19/12/2023, tại khu vực phía sau khách sạn M thuộc phường T, thành phố M, N đã nhiều lần mua thuốc lá điếu của H1, mỗi lần từ 30 đến 40 cây, với giá 100.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LIGUN, 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING và 80.000 đồng/cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LOTUS (còn gọi là Sen Xanh do Việt Nam sản xuất). Sau khi mua được thuốc lá N đem về nhà thuê ở cất giấu và bán khi có người hỏi mua. Đồng thời, N còn đem thuốc lá đến khu vực đường T, phường T, thành phố M để bán cho khách du lịch. Tại đây, vào khoảng tháng 5/2023, N gặp Phạm Minh T1 (là khách du lịch) và nói cho T1 biết là N có thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất bán, cả hai thỏa thuận, với giá 130.000 đồng/cây thuốc lá điếu CHUNGHWA, 110.000 đồng/cây thuốc lá điếu LIGUN, 110.000 đồng/cây thuốc lá điếu FURONGWANG, 100 đồng/cây thuốc lá điếu LOTUS và khi T1 đặt mua, N sẽ đóng gói rồi gửi chuyển phát nhanh qua Bưu cục 29 Ngô Gia T3, thành phố M, đến số nhà S đường A KĐT L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cho T1 và nhận tiền qua số tài khoản 0551000260060 mở tại Ngân hàng V của N. Ngày 09/12/2023, T1 liên hệ qua ứng dụng Zalo với N đặt mua 144 cây = 1.440 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, N đồng ý bán. Đến khoảng 14 giờ, ngày 19/12/2023, N cho 144 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA vào 02 thùng cát tông, rồi cho vào 01 bao tải dứa màu xanh và bê ra khu vực trước cổng nhà để chờ thuê xe ôm chở đến Bưu cục chuyển phát nhanh, gửi cho T1 thì bị Công an thành phố M kiểm tra, bắt giữ. Khi bị kiểm tra, N đã tự nguyện giao nộp 538 cây = 5.380 bao thuốc lá điếu, nhãn hiệu chữ nước ngoài các loại, loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger