|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HS-PT Ngày 11/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Thực.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và bà Nguyễn Thị Hương.
-Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 11/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 67/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Văn M, Phạm Minh H, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên.
* Bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Văn M, sinh năm 1998 tại xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Bùi Duy T và bà Phạm Thị M1; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị bắt tạm giam từ ngày 18/5/2023 đến ngày 12/9/2023 được thay thế bằng biện pháp Bảo lĩnh, hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
- Phạm Minh H, sinh ngày 03/3/2005 tại xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Phạm Văn V và bà Phạm Thị L; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị cáo không có kháng cáo:
Bùi Trung H1, sinh ngày 07/3/2007, Trần Tuấn A, sinh ngày 31/01/2006, Phạm Văn H2, sinh ngày 03/3/2006, Bùi Văn M, sinh ngày 11/10/2007.
* Bị hại:
- - Cháu Đỗ Văn H3, sinh ngày 23/6/2006. Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1973 là bố đẻ; Địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại cháu Đỗ Xuân H4: Luật sư Nguyễn Phó D – Công ty L1 và Cộng sự thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
- - Cháu Trần P, sinh ngày 13/9/2006; Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị T2, sinh năm 1965; Đều có địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ông Đỗ Văn T1, sinh năm 1973; Chị Đỗ Thị T3, sinh năm 1999; Anh Trần Mạnh T4, sinh năm 1989. Đều có địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
- - Cháu Vũ Anh T5, sinh ngày 05/10/2010; Người đại diện hợp pháp: Chị Bùi Thị B, sinh năm 1987 là mẹ đẻ.
- - Cháu Vũ Văn H5, sinh ngày 26/3/2009; Người đại diện hợp pháp: Chị Phạm Thị T6, sinh năm 1988 là mẹ đẻ.
- - Cháu Phạm Ngọc T7, sinh ngày 14/5/2009; Người đại diện hợp pháp: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1980 là bố đẻ.
- - Cháu Hoàng Văn Q, sinh ngày 04/01/2010; Người đại diện hợp pháp: Chị Bùi Thị H6, sinh năm 1986 là mẹ đẻ.
- Đều có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
- - Cháu Đào Quyết T8, sinh ngày 04/10/2009; Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1980 là mẹ đẻ; Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 ngày 18/3/2023, Bùi Văn M sinh năm 1998; Phạm Minh H; Trần Tuấn A; Bùi Văn M, sinh năm 2007; Bùi Trung H1; Phạm Văn H2; Phạm Ngọc T7; Hoàng Văn Q; Vũ Anh T5; Vũ Văn H5, sinh năm 2009; Đào Quyết T8 cùng nhau điều khiển 08 xe đạp đi từ cầu L thuộc xã T đến xã A, huyện T. Khi đi đến đoạn đường thôn N, xã A thì gặp Đỗ Xuân H4 điều khiển xe mô tô BKS 89AA-115.74 chở theo Trần P đi ngược chiều. Hưởng và P nghe thấy trong nhóm thanh niên có ai chửi mình nên quay đầu xe lại đuổi theo, P dùng tay đánh vào lưng của Phạm Minh H, tiếp đó H4, P đấm vào lưng của Bùi Văn M sinh năm 1998 rồi điều khiển xe mô tô đi nhanh về hướng bãi rác gần Đại học T11. Thấy vậy, Bùi Trung H1 hô hoán mọi người trong nhóm đuổi theo xe của H4, P để đánh lại nhưng không đuổi kịp. Khi H4, P đi xe mô tô đến khu vực ngã ba rẽ vào chùa Đ1 thì dừng lại nhặt 01 đoạn gậy gỗ khua khoắng rồi tiếp tục phóng xe về phía trường đại học T11. Bùi Trung H1 nói “Tất cả quay lại xem bọn nó có về đường chỗ ngã ba Nội Thượng không”, cả nhóm đều hiểu ý là về ngã ba N để chặn đánh không ai nói gì và cùng nhau quay xe đi. Trên đường đi, Bùi Trung H1 nhặt một mảng vữa khô để lên giỏ xe đạp của T8 để mang theo và nói “cầm gạch quay về ngã ba N chờ hai thằng xe cúp”, Phạm Minh H cũng nhặt 01 cục đất để vào giỏ xe của Tuấn A. Khi đi đến ngã ba thôn N, xã A, Bùi Trung H1 nói “nấp vào đây, anh em đâu, nấp vào nhanh lên”, mục đích để tránh sự phát hiện của H4, P thì Vũ Văn H5 nói “Cầm gạch trước đi”. Bùi Trung H1 lấy mảng vữa trong giỏ xe đạp của T8 đập xuống đất cho vỡ thành các mảng nhỏ và nói “Đấy, chia nhau ra mà ném”, thì có Bùi Trung H1, Phạm Văn H2 nhặt mảng vữa nhỏ; T7 nhặt ½ viên gạch không nung; Vũ Văn H5 nhặt một đoạn gỗ khô; T5 nhặt một mảng gạch không nung; Q và Tuấn A mỗi người nhặt một cục đất khô ở gần chân cột điện để chờ H4, P đi qua để ném. Sau đó cả nhóm lại đạp xe về phía đền Đ2 và đứng ở ngã ba thôn N hướng về UBND xã A chờ, chỉ còn Phạm Văn H2 đứng ở ngã ba thôn N cùng Bùi Văn M sinh năm 1998. Trong lúc chờ, cả hai nhóm đi ra, đi vào để quan sát xem xe của H4, P đã đi đến nơi chưa.
Đến khoảng 21 giờ 40 cùng ngày, Trần Tuấn A một mình điều khiển xe đạp từ ngã ba N về ngã ba N, phát hiện ánh đèn đi từ hướng thôn N về đền Đ2, Tuấn A nhận ra đó là xe của cháu H4 điều khiển nên hô “Cúp đây này”, ý nói là xe của cháu H4 đến. Lúc này, ở ngã ba N, Bùi Văn M sinh năm 1998 dùng hai tay nhấc bổng đầu xe đạp rồi phi mạnh xe về hướng xe mô tô do H4 đang điều khiển nhưng không trúng, Phạm Văn H2 cầm mảng vữa giơ lên định ném về hướng xe của H4, P nhưng không kịp ném thì xe đã vụt qua nên thả mảng vữa xuống đường. Tại ngã ba thôn N, T7 lao ra cầm ½ viên gạch không nung ném mạnh về phía chiếc xe mô tô của H4 điều khiển, sau đó 04 người gồm Vũ Văn H5, Q, Bùi Trung H1 và T5 cũng lao ra ném về phía xe mô tô, khi bị ném cháu H4 bị mất lái đâm vào cửa nhà, biển quảng cáo và chậu hoa trước cửa nhà anh Trần Mạnh T4, thấy xe máy của H4, P đổ ngã nên Bùi Văn M sinh năm 2007, Phạm Minh H và Đào Quốc T9 không đánh H4, P nữa rồi cả nhóm bỏ chạy. Hậu quả cháu H4 bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viên đa khoa tỉnh Hưng Yên, sau đó điều trị tại Bệnh viện V1 và Bệnh viện Y, cháu P bị thương nhẹ, xe mô tô BKS: 89AA - 115.74 bị hư hỏng.
Biên bản khám nghiệm hiện trường lập hồi 22 giờ 05 phút ngày 18/3/2023 xác định: Tại vị trí bậc lên xuống thứ nhất từ dưới lên ở hiên nhà Q1 Ưng có 01 cục đất kích thước (8x9)cm và vùng vương vãi xung quanh kích thước (60x30)cm ký hiệu 1, tâm vùng 1 cách cột điện số 6 trạm biến áp Nội M là 1260cm, cách mép tường bên trái nhà bà Đỗ Thị T10 là 507m. Tại vị trí bậc lên xuống thứ 2 từ dưới lên nhà Q có vùng cát vữa dạng bột (ký hiệu 2), kích thước (75x30)cm, tâm vùng 2 cách tâm vùng 1 là 80cm, cách mép tường bên trái nhà bà T10 là 587cm. Tại vị trí lòng đường nhựa cách mép đường bên trái theo chiều từ thôn N đi đền Đ2 là 402cm, cạnh nhà Tuấn Q2 có 02 mảnh gạch dạng lát nền, một mặt màu đỏ, một mặt bám dính dạng vôi vữa (ký hiệu 3), kích thước (140x10)cm, 02 mảnh gạch có kích thước lần lượt là (7x3)cm và (5,3x3)cm, khoảng cách từ tâm vùng 3 đến tâm vùng 2 là 350cm, tiến hành thu giữ 02 mảnh gạch trên để phục vụ điều tra. Tại vị trí lòng đường phía trước cửa nhà anh T4, cách mép đường bên trái theo chiều đi từ thôn N đến đền Đ2 có rải rác vết màu nâu đỏ dạng giọt rơi (nghi là máu) kích thước (430x120)cm, ký hiệu 4, khoảng cách từ tâm vùng 4 đến tâm vùng 3 là 313cm, tiến hành thu giữ mẫu màu nâu đỏ dạng giọt rơi trên niêm phong ký hiệu M1. Tại biển quảng cáo “Mạnh Tăng nhận giặt chăn”, là biển thứ 2 vị trí ở giữa trong 03 biển được gắn treo trên tường nhà anh Mạnh T4 (theo hướng từ trái qua phải), kích thước (210x78)cm, ký hiệu 5, biển quảng cáo được làm bằng vải bạt, bên ngoài bịt kín khung kim loại bên trong, biển quảng cáo bị tác động bị đẩy cong theo chiều từ trái qua phải, kích thước vùng biến dạng là (78x95)cm, điểm thấp nhất cách mặt đất là 75cm, điểm cao nhất cách mặt đất là 145cm. Khoảng cách từ vị trí 5 đến tâm vùng 4 là 245cm, trên bề mặt biển quảng cáo, phần bị biến dạng có bám dính chất màu nâu đỏ (nghi là máu), tiến hành thu giữ mẫu chất màu nâu đỏ trên, niêm phong ký hiệu M2. Tại vị trí cửa quán thứ 3 nhà anh T4 theo chiều từ trái sang phải có kích thước (420x390)cm, cửa màu xám, trong trạng thái đóng kín, mặt ngoài cửa có vùng chất màu nâu đỏ dạng tia bám dính và vùng chùi màu nâu đỏ có cùng chiều từ trái sang phải, ký hiệu 6. Kích thước vùng chất màu nâu đỏ (nghi là máu) bám dính là (240x74)cm, vệt chùi màu nâu đỏ kích thước (105x10)cm, trên vết chùi có dính sợi màu đen dạng tóc. T10 vùng 6 cách tâm vùng 5 là 210cm. Tiến hành thu giữ chất màu nâu đỏ dạng tia và mẫu chất màu nâu đỏ dạng chùi, niêm phong ký hiệu M3; Thu giữ sợi màu đen dạng lông tóc niêm phong ký hiệu M4. Tại vị trí trên nền dốc lên xuống ở chân cửa cuốn có vùng gạch, mảng vỡ chậu cây, gốc cây cảnh, đất vung vãi và một nửa viên gạch không nung (gạch đặc) có kích thước (10x9x6)cm và 02 mảnh gạch dạng gạch lát nền, một mặt màu đỏ, một mặt bám dính dạng vôi vữa, có kích thước lần lượt là (7x2,5)cm và (6x3)cm; 01 cục đất kích thước (8x9)cm, vùng này được ký hiệu 7 có kích thước (200x240)cm. khoảng cách từ tâm vùng 7 đến tâm vùng 6 là 140cm. tiến hành thu giữ 01 nửa viên gạch không nung đặc, 02 mảnh gạch dạng gạch lát nền và 01 cục đất để phục vụ điều tra. Tại vị trí xe máy nhãn hiệu CUP ESPERO biển số 89AA-115.74 được ký hiệu 8, khoảng cách từ tâm vùng 8 đến tâm vùng 7 là 240cm, trục bánh xe sau cách mép đường bên trái là 162cm, xe trong tình trạng dựng, đầu xe hướng vào gốc cây hoa giấy và tường nhà anh Trần Mạnh T4, đuôi xe hướng ra đường, bánh xe trước nằm trên bồn cây hoa giấy giáp tường nhà anh T4. Tiến hành thu giữ chiếc xe máy trên. Tại vị trí nền đường phía trước cưa nhà N, ký hiệu 9, cách trục sau bánh xe máy 89AA – 115.74 là 342cm, cách mép đường bên trái là 504cm có một khúc gỗ, một đầu tầy, một đầu nham nhở kích thước (23x4)cm, cách tâm vùng 8 440cm. tiến hành thu giữ khúc gỗ trên để phục vụ điều tra. Mở rộng hiện trường phát hiện tại đường bê tông lối dẫn ra cánh đồng thôn N và khu bãi rác, ở lề đường bên trái có nhiều viên gạch dạng gạch không nung đặc và 01 nửa viên gạch dạng gạch lát nền, một mặt màu đỏ, một mặt bám dính chất vôi vữa.
Quá trình khám nghiệm đã thu 03 mẫu chất màu nâu đỏ (được niêm phong ký hiệu M1, M2 và M3); các sợi tóc (niêm phong ký hiệu M4) và 06 mảng gạch, đất, vữa khô, gạch lát nền có hình dạng khác nhau được niêm phong trong 06 thùng catton ký hiệu lần lượt là N1, N2, N3, N4, N5 và N6.
Tại bệnh án của Bệnh viện đa khoa tỉnh H xác định: Bệnh nhân Đỗ Xuân H4 vào viện hồi 22 giờ 05 phút ngày 18/3/2023. Tình trạng vào viện: Vết thương vùng thái dương đỉnh lộ xương sọ kích thước (2x10)cm, chảy máu; cẳng chân trái xưng nề, có vết thương kích thước 1cm. Kết quả chụp CT - Scanner sọ não: Nhu mô não vùng trán đỉnh phải có phần nằm ngoài xương sọ dày 14mm; Nhu mô não vùng trán đỉnh hai bên có một số tổn thương đụng dập 5mm chảy máu màng mềm; hình ảnh tụ dịch dưới màng cứng hai bên bán cầu dày 9 – 10mm kèm tụ khí nội sọ; đường giữa lệch phải 5mm; trên cửa sổ xương thấy đường vỡ xương phức tạp khe khớp vùng đỉnh trán hai bên lan vào sào bào phải. Kết quả chụp CT – Scanner lồng ngực: Phổi hai bên giảm thông khí, đụng dập nhỏ nhu mô phổi vùng lưng. Kết quả X- Q3 cẳng chân trái: Hình ảnh mất liên tục bờ trước 1/3 trên xương chày. Điều trị mổ phẫu thuật hộp sọ, đến ngày 31/3/2023 cháu H4 được chuyển đến Bệnh viện V1 để điều trị tiếp.
Tại Trích sao bệnh án Bệnh viên hữu nghị V2 xác định: Bệnh nhân Đỗ Xuân H4 vào viện ngày 31/3/2023. Chuẩn đoán: Nhiễm trùng vết mổ - dò dịch não tủy, khuyết da đầu rộng vùng trán đỉnh phải sau mổ vết thương sọ não. Quá trình điều trị: Phẫu thuật cắt lọc làm sạch tổn khuyết da đầu, tạo hình che phủ bằng chuyển vạt phần mềm da đầu cuống mạch liền và ghép da. Cắt lọc hoại tử ổ loét vết thương mãn tính: vùng đầu, lấy dịch cấy vi sinh. Phẫu thuật đóng đường dò dịch não tủy sau mổ các vết thương tổn nền sọ. Đến ngày 05/6/2023 chuyển đến Bệnh viện Y.
Từ ngày 05/6/2023 đến 07/7/2023 và từ ngày 18/7/2023 đến ngày 16/8/2023, cháu Đỗ Xuân H4 khám và điều trị tại Bệnh viện Y. Từ ngày 17/8/2023 đến ngày 25/8/2023 cháu H4 khám và điều trị tại Bệnh viện V1. Từ ngày 25/8/2023 đến ngày 31/8/2023 khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh H, từ ngày 31/8/2023 đến nay điều trị tại nhà.
Tại kết luận giám định số 74/2023/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 17/4/2023 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở Y tế tỉnh H kết luận: ổ đụng dập nhu mô não vùng trái đỉnh phải, kích thước (5,5x6,9)cm, tỷ lệ 35%; 01 vết thương kích thước lớn chéo giữa vùng trái lên đỉnh phải, tỷ lệ 03%; 01 vết thương kích thước lớn chép vùng thái dương đình phải, tỷ lệ 3%; 01 vết thương nhỏ ngang mặt trước bờ dưới xương bánh chè gối phải, tỷ lệ 01%; 01 vết thương kích thước trung bình mặt trước 1/3 trên cẳng chân trái sát mào chảy, tỷ lệ 02%; 01 vết thương kích thước trung bình mặt trước trong 1/3 trên cẳng chân trái, tỷ lệ 02%; 01 vết thương kích thước trung bình mặt trước 1/3 giữa cẳng chân trái, tỷ lệ 02%; Mất móng ngón I bàn chân trái, tỷ lệ 02%; Tụ máu dưới màng cứng hai bên bán cầu não; chảy máu màng mềm một số khe rãnh cuộn não hai bên bán cầu và liền đại não; ổ tổn thương não còn lại chưa đo được kích thước; khuyết xương sọ vùng trán – đỉnh phải. Đụng dập thùy dưới hai phổi; theo dõi liệt ½ người trái. Theo dõi gãy xương chày trái. (Hiện tại các tổn thương này đang trong quá trình điều trị nên chưa tầm soát được hoặc đánh giá được hết mức độ và hậu quả của di biến chứng để lại nên chưa đủ cơ sở khoa học để áp dụng tính tỷ lệ tổn thương cơ thể của các thương tích này). Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Đỗ Xuân H4 tại thời điểm giám định là 44%. Cơ chế hình thành thương tích là do dạng tác động với vật cứng có bờ cạnh và va đạp với vật cứng hoặc nền cứng gây nên. Hiện các tổn thương đang trong quá trình điều trị phục hồi cũng có thể để lại các di biến chứng hoặc tổn thương chưa được tầm soát hết khi chưa có tổng kết điều trị. Các yếu tố này làm tăng tỷ lệ % tổn thương cơ thể. Vậy cơ quan trưng cầu giám định cho bị hại giám định bổ sung sau khi điều trị tổn thương ổn định hoặc khi cần thiết.
Tại bản kết luận giám định bổ sung số 130/2023/KLTTCT-BS-TTPY&GĐYK ngày 24/7/2023 của của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở Y tế tỉnh H kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Đỗ Xuân H4 tại thời điểm giám định là 98%. Cơ chế hình thành vết thương nay đã tạo sẹo vùng thái dương phải võng lên giữa đỉnh xuống vùng chẩm thái dương trái là do phẫu thuật can thiệp gây nên. Cơ chế hình thành vết thương nay đã thành sẹo chéo giữa vùng trán lên đỉnh phải là do tác động bởi dạng vật cứng có gờ cạnh gây nên. Cơ chế hình thành thương tích gẫy vỡ xương vùng thái dương – đỉnh hai bên và khuyết một phần xương sọ vùng trán – đỉnh phải là do tác động bởi dạng vật cứng có gờ cạnh hoặc va đậm với vật cứng – nền cứng gây nên. Cơ chế hình thành thương tích gây tổn thương đụng dập nhu mô phổi là do tác động va đập với dạng vật cứng hoặc nền cứng gây nên. Cơ chế hình thành các vết thương nay đã tạo sẹo vùng cẳng chân hai bên và gẫy rạn xương chày trái vị trí bờ trước 1/3 trên là do dạng chà sát và va đập với vật cứng hoặc nền cứng gây nên. Cơ chế hình thành vết thương nay đã tạo sẹo dọc vùng mặt ngoài đùi phải là do lấy cơ và da để ghép. Cơ chế hình thành các vết thương nay đã tạo sẹo vùng chẩm, vùng cùng cụt và gót chân trái là do loét tỳ đè.
Tại bản kết luận giám định số 5018/KL-KTHS ngày 01/8/2023 của V3 Bộ C kết luận: Mẫu gửi giám định có ký hiệu M1, M2, M3 là máu người và là máu của Đỗ Xuân H4. Mẫu gửi giam định có ký hiệu M4 là tóc của Đỗ Xuân H4.
Tại bản kết luận giám định số 2978/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của V3 Bộ C kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 02 tệp video gửi giám định
Tại bản kết luận định giá tài sản số 66/KL-HĐĐGTS ngày 31/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị phần hư hỏng của xe mô tô biển số 89AA-115.74 nhãn hiệu DETECH ESPERO CUP màu xanh trắng tại thời điểm ngày 18/3/2023 là 930.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho cháu H4, trong đó Bùi Văn M sinh năm 1998 và Phạm Minh H mỗi bị cáo bồi thường 135.000.000đ; Bùi Trung H1 và Trần Tuấn A mỗi bị cáo 15.000.000đ; Bùi Văn M sinh năm 2007 và Phạm Văn H2 mỗi bị cáo 10.000.000đ. Các đối tượng Phạm Ngọc T7, Đào Quyết T8, Hoàng Văn Q, Vũ Anh T5, Vũ Văn H5 đã tác động gia đình mỗi người bồi thường cho gia đình cháu H4 số tiền 15.000.000đ. Tổng số tiền đã bồi thường là 395.000.000đ. Đến nay, đại diện gia đình cháu H4 là ông Đỗ Văn T1 yêu cầu các bị cáo và đối tượng gây thương tích bồi thường thêm cho cháu H4 số tiền 1.500.000.000đ (một tỷ năm trăm triệu đồng), gồm tiền chi phí điều trị cho cháu H4 trước đây và sau này; tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho cháu H4 trước đây và sau này; tiền mất thu nhập thực tế của người chăm sóc là ông T1 và chị Đỗ Thị T3 (chị gái cháu H4) trú tại thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Hưng Yên và tiền tổn thất về tinh thần.
Đối với hành vi Đỗ Xuân H4, Trần P dùng tay đánh Bùi Văn M sinh năm 1998 và Phạm Minh H nhưng cả hai từ chối giám định thương tích và không yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét xử lý.
Đối với hành vi của Bùi Văn M sinh năm 1998; Phạm Minh H, Trần Tuấn A, Bùi Văn M sinh năm 2007, Bùi Trung H1, Phạm Văn H2, Phạm Ngọc T7, Đào Quyết T8, Hoàng Văn Q, Vũ Anh T5, Vũ Văn H5 gây thương tích cho cháu Trần P nhưng đã từ chối giám định thương tích và không yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét xử lý.
Đối với chiếc xe đạp do Bùi Văn M sinh năm 1998 sử dụng để phi về phía xe máy do cháu H4 điều khiển là của bố đẻ ông Bùi Duy T sinh năm 1940, ông T không biết M sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội nên không có căn cứ xử lý đối với ông T. Ngày 19/3/2023 ông T đã bán chiếc xe trên cho một người mua bán đồng nát không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Đối với những chiếc xe đạp khác các bị cáo và các đối tượng sử dụng vào mục đích đi tập thể dục, không sử dụng trực tiếp vào việc phạm tội nên không cơ quan điều tra không thu giữ những chiếc xe đạp trên.
Đối với chiếc biển quảng cáo trước cửa nhà anh Trần Mạnh T4 bị hư hỏng, anh T4 đã tự sửa chữa, không yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.
Quá trình điều tra, các bị cáo Bùi Văn M sinh năm 1998; Phạm Minh H, Trần Tuấn A, Bùi Văn M sinh năm 2007, Bùi Trung H1 thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Riêng bị cáo Phạm Văn H2 không nhận tội, khai không tham gia cùng mọi người đuổi cháu H4, P, khi đến bãi rác xã A thì cùng mọi người về ngã ba N để xem mọi người đánh cháu H4 và cháu P. Nếu cháu H4, P đi về hướng bãi rác xã A, lao về phía H2 sẽ cầm mảng vữa khô ném để tự vệ.
Tại bản án hình sự sơ thẩm 22/2024/HS-ST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Căn cứ Điểm d Khoản 4 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, 54, 58 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án đối với bị cáo Bùi Văn M sinh năm 1998 và Phạm Minh H. Áp dụng thêm Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Bùi Văn M sinh năm 1998.
Tuyên bố:
Các bị cáo Bùi Trung H1, Bùi Văn M sinh năm 1998, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
Bị cáo Phạm Minh H 05 năm tù (năm năm tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Bị cáo Bùi Văn M (sinh năm 1998) 05 năm 03 tháng tù (năm năm ba tháng tù), được trừ đi 03 tháng 28 ngày tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 04 năm 11 tháng 02 ngày tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/6/2024, bị cáo Bùi Văn M, Phạm Minh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Phạm Minh H, Bùi Văn M giữ nguyên kháng cáo, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân thực hiện hành vi phạm tội, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xác định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn M, Phạm Minh H về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan, mức hình phạt cấp sơ thẩm đưa ra là có phần nghiêm khắc với hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Văn M và Phạm Minh H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Giảm hình phạt cho M từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng tù; giảm hình phạt cho H từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của của bị cáo Bùi Văn M, Phạm Minh H trong thời hạn luật định, là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Văn M và bị cáo Phạm Minh H, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai nhận, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan, phù hợp với Kết luận giám định thương tích cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ xác định: Do va chạm xích mích với nhau, khoảng 21 giờ 40 phút ngày 18/3/2023, tại khu vực chợ N thuộc xã A, huyện T, tỉnh Hưng Yên. Bùi Văn M, sinh năm 1998, Phạm Minh H, Trần Tuấn A, sinh ngày 31/01/2006; Bùi Văn M, sinh ngày 11/10/2007; Bùi Trung H1, sinh ngày 07/3/2007; Phạm Văn H2, sinh ngày 03/3/2006; Phạm Ngọc T7, sinh ngày 14/5/2009; Đào Quyết T8, sinh ngày 04/10/2009; Hoàng Văn Q, sinh ngày 04/01/2010; Vũ Anh T5, sinh ngày 05/10/2010; Vũ Văn H5, sinh ngày 26/3/2009 đã có hành vi tụ tập chặn đường, sử dụng gạch, đất, vữa khô, gỗ là hung khí nguy hiểm ném vào xe mô tô do cháu Đỗ Xuân H4 điều khiển chở cháu Trần P ngồi sau, gây thương tích cho cháu Đỗ Xuân H4 sinh ngày 23/6/2006 với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 98%. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điểm d Khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Xét nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tội phạm thì thấy: Khi nhóm thanh niên xã T gồm 11 người trong đó có các bị cáo đi trên đường làng gặp Đỗ Xuân H4 đi xe mô tô chở Trần P đi ngược chiều, H4 và P nghe thấy nhóm thanh niên xã T có ai đó chửi mình nên đã quay xe lại dùng tay đánh Bùi Văn M sinh năm 1998, và đánh Phạm Minh H rồi phóng xe bỏ chạy. Trong đó P đánh vào lưng H; H4, P đấm vào lưng M. Vì vậy, trong trường hợp này thì bị hại là cháu Đỗ Xuân H4 và cháu Trần P có lỗi một phần dẫn đến tội phạm.
Về nhân thân: M và H đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và chưa có tiền án tiền sự. Hai bị cáo cũng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ: Cả hai đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực tác động gia đình cùng với các bị cáo khác tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại với tổng số tiền 820.000.000 đồng. Trong đó, M và H là những người bồi thường nhiều nhất với mỗi bị cáo bồi thường 235.000.000 đồng. Gia đình bị hại chấp nhận và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm. Phạm Minh H và Bùi Văn M cũng đã đến cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T đầu thú. Phía đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bản thân hai gia đình H, M có đơn xin cải tạo tại địa phương được UBND xã T xác nhận. Ngoài ra, bị cáo Bùi Văn M có bố đẻ được tặng huân, huy chương. Phạm Minh H có ông ngoại được tặng huân, huy chương.
Xét vai trò, vị trí của các bị cáo thì thấy: Đây là vụ án có đồng phạm tham gia, tuy nhiên các bị cáo tiếp nhận ý chí của nhau một cách tự nguyện, không có sự phân công cụ thể nên là đồng phạm giản đơn. Đối với bị cáo Bùi Văn M sinh năm 1998 là người thực hành, tại ngã ba thôn N, M có hành vi dùng xe đạp của mình lao về phía xe máy do cháu H4 điều khiển nhằm mục đích gây thương tích nhưng không trúng vì cháu H4 đã phóng xe vọt qua. Khi cháu H4 đi xe về đến ngã ba thôn N, Phạm Ngọc T7 lao ra cầm ½ viên gạch không nung ném mạnh về phía chiếc xe mô tô của H4 điều khiển, sau đó 04 người gồm Vũ Văn H5, Hoàng Văn Q, Bùi Trung H1 và Vũ Anh T5 cũng lao ra ném về phía xe mô tô dẫn đến việc cháu H4 bị mất lái đâm vào cửa nhà, biển quảng cáo và chậu hoa trước cửa nhà anh Trần Mạnh T4, đây là những người trực tiếp và có vai trò tích cực dẫn đến thương tích 98% của cháu H4. Phạm Minh H khi đó cũng có mặt tại ngã ba thôn N nhưng chỉ có vai trò giúp sức tạo điều kiện về mặt tinh thần cho việc phạm tội của các bị cáo.
Cho nên có căn cứ xác định, đối với thương tích gây nên cho cháu H4 thì cả M và H đều có vai trò thứ yếu không đáng kể.
Tổng hợp tất cả những phân tích nêu trên, nhận thấy mức án 5 năm 3 tháng tù đối với M; 5 năm tù đối với H mà cấp sơ thẩm đã áp dụng cho hai bị cáo là có phần nghiêm khắc.
Tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, M và H đều thực sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Cả hai đều còn rất trẻ, Hiếu sinh năm 2005 mới tốt nghiệp lớp 12, M sinh năm 1998 chưa có gia đình và công ăn việc làm, các bị cáo đều mong muốn được tạo điều kiện và cơ hội để sửa chữa sai lầm, làm người có ích cho xã hội. Phía gia đình bị hại tiếp tục có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.
Vì vậy, cấp phúc thẩm sẽ áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật cũng như tạo điều kiện cho các bị cáo sớm hòa nhập với xã hội nhưng vẫn đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.
[3]. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 343; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Điểm d Khoản 4 Điều 134; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 54, 58 Bộ luật Hình sự.
Tuyên xử:
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn M và bị cáo Phạm Minh H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm 22/2024/HSST ngày 23/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên như sau:
Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 03 năm tù (ba năm tù), thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Xử phạt bị cáo Bùi Văn M (sinh năm 1998) 04 năm (bốn năm tù), được trừ đi 03 tháng 28 ngày tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 03 năm 08 tháng 02 ngày tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Đều về tội “Cố ý gây thương tích".
- Về án phí: Bị cáo Bùi Văn M, Phạm Minh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Thực |
Bản án số 48/2024/HS-PT ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 48/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Mạnh, Phạm Minh Hiếu - Cố ý gây thương tích
