Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 5- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thế Mỹ, bà Trương Thị Bích Tuyền.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diễm My - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn N

, sinh ngày 17/02/1990, nơi sinh: C, An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Phạm Văn H, sinh năm 1960 và bà Đặng Thị Ngọc N1 (đã chết); chưa có vợ con; tiền án: ngày 24/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, bản án xác định tái phạm, chấp hành xong ngày 01/4/2023; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/11/2023 cho đến nay, (có mặt).

Bị hại:

- Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1984; nơi cư trú: số B, Thủ Khoa N, tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt);

- Bà Trần Thọ G, sinh năm 1985; nơi cư trú: số B, Thủ Khoa N, tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Khúc Thành T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ A, khóm H, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt);

- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, Phạm Văn N thấy nhà của Trần Thọ G và Nguyễn Văn A thuộc số B, đường T, tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, đang tổ chức đám tang, không người trông giữ nên N lén lút đi vào phòng ngủ của G, A lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33-5G của A và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của G mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, mang điện thoại Samsung A33-5G đến của hàng “Toàn Thịnh”, ngụ khóm H, phường V, thành phố C cầm cho ông K Thành Trí được 2.500.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết 900.000 đồng. Sau đó, N đến hẻm B đường C thuộc khóm C, phường V, thành phố C, gặp một người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 600.000 đồng ma túy loại Heroine được để trong 06 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, N lấy ma túy để vào ví da, cất giấu trong túi quần trước bên phải rồi đi về nhà. Trên đường đi, Nam gặp Nguyễn Văn B, được B nhờ điều khiển xe đạp điện đã bị hỏng của B để đi sửa, còn B điều khiển xe mô tô phía sau đầy xe của N; khi đến trước quán "", ngụ tổ B, khóm C, phường V, thành phố C thì bị lực lượng Công an phường V kiểm tra, kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N cùng tang vật. Riêng A, G phát hiện bị mất trộm tài sản nên đến Cơ quan Công an phường C A trình báo.

Vật chứng thu giữ: Tiền Việt Nam 1.000.000 đồng; 06 đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng, 02 sim của nhà mạng V (đã giao trả cho A, G); 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ, lần lượt có dãy số 11247694902, 10839702669; 01 áo sơ mi den, tay dài; 01 quần sọt Jean xanh; 01 xe đạp điện màu đen-nâu; trên xe có nhãn hiệu Yamaha; 01 ví da màu nâu.

Căn cứ Kết luận giám định số 221/KL-KTHS (MT-GT) ngày 24/11/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,3644 gam.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 755/KL-ĐG ngày 28/11/2023 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu trắng, dung lượng bộ nhớ 128Gb, trị giá 8.000.000 đồng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33 5G, vỏ màu xanh, dung lượng bộ nhớ 128Gb, trị giá 3.700.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSCĐ-HS ngày 12/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Phạm Văn N về các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và từ 06 năm đến 07 năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt theo luật định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; các Điều 585, 589 Bộ luật Dân sự, trả lại cho ông K Thành Trí 1.000.000 đồng; Nguyễn Văn B 01 xe đạp điện màu đen - nâu; bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ; tịch thu, tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định; 01 áo sơ mi đen, tay dài, 01 quần sọt Jean xanh, 01 ví da màu nâu; Buộc bị cáo trả lại 1.500.000 đồng cho ông K Thành Trí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên toà, bị hại ông Nguyễn Văn A, bà Trần Thọ G có đơn xin xét xử vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Khúc Thành T, ông Nguyễn Văn B vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 19/11/2023, tại nhà số B, đường T, tổ G, khóm C, phường C, thành phố C, bị cáo Phạm Văn N đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A33-5G của ông A, trị giá 3.700.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 của bà G, trị giá 8.000.000 đồng, tổng cộng 11.700.000 đồng. Cùng ngày, tại khu vực khóm C, phường V, thành phố C, bị cáo cất đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy loại Heroine, khối lượng 0,3644 gam để sử dụng. Đồng thời, ngày 24/01/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, bản án xác định tái phạm, chấp hành xong ngày 01/4/2023.

Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng năng là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 05 năm đến 10 năm.Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Châu Đốc và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân và trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Ngoài ra, bị cáo từng bị kết án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời hạn 04 năm 06 tháng, chấp hành xong vào ngày 01/4/2023 nay lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không; Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình Điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có xem xét cho các bị cáo khi lượng hình.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với lượng ma túy còn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 áo sơ mi đen, tay dài; 01 quần sọt jean xanh; 01 ví da màu nâu là trang phục bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Tiền Việt Nam 1.000.000 đồng là số tiền còn lại do bị cáo cầm điện thoại di động đã trộm cắp được cho ông Khúc Thành T. Xét thấy khi nhận cầm tài sản, ông T không biết do bị cáo phạm tội mà có nên giao trả cho ông T số tiền 1.000.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ, 01 sim của nhà mạng Vinaphone có dãy số 10839702669 bị cáo không thực hiện vào việc phạm tôi, xét giao trả cho bị cáo;

- 01 xe đạp điện màu nâu-đen quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của ông B, không liên quan đến tội phạm, xét trả lại cho ông B.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ông T yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.500.000 đồng tiền, xét yêu cầu của ông T là đúng quy định pháp luật nên buộc bị cáo phải trả 1.500.000 đồng cho ông T.

[7] Các vấn đề khác: đối với người nam thanh niên (không rõ lai lịch) bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o khoảng 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 19/11/2023.

2. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong vụ số 221/KL-KTHS (MT-GT) ngày 24/11/2023 có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang cùng các chữ ký ghi tên Ôn Văn T1, Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Văn Â, cùng lượng ma túy bên trong.

- Tịch thu tiêu hủy 01 quần sọt màu xanh đen, 01 áo sơ mi màu đen, dài tay, 01 ví da màu nâu;

- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn N 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đỏ, không có sim;

- Trả lại cho ông Nguyễn Văn B 01 xe đạp điện màu đen, cam, trên xe có nhãn hiệu Yamaha.

- Trả lại cho ông K Thành Trí số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng;

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).

3. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự 2015:

Buộc bị cáo Phạm Văn N có trách nhiệm hoàn trả cho ông khúc Thành Trí số tiền là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Phạm Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Phạm Văn N có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người liên quan vắng mặt tại phiên là thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh (1);
  • - Viện KSND thành phố (2);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà Tạm giữ - CATPCĐ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; 1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm o khoảng 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Nam 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 19/11/2023.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger