Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-5-2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Lam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể; ông Nguyễn Thái Linh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Soan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 137/2024/TLST-HNGĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/3/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị H, sinh năm 1980; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Hiện lao động tại Malaysia tại Block B, Solok N, A P, huyện S, B penang, Malaysia. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Anh T, sinh năm 1977; nơi thường trú: Làng B, xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: Thôn P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai có tại hồ sơ vụ án, chị Trần Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Lê Anh T tự nguyện kết hôn ngày 11/02/1998 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2005 chị H sang Malaysia làm việc, năm 2012 anh T cũng sang làm việc với chị H tại Malaysia, thời điểm này vợ chồng vẫn luôn quan tâm nhau, cuộc sống hôn nhân vẫn hạnh phúc. Năm 2013 anh T về nước, năm 2014 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và liên quan đến tiền bạc, anh T thường xuyên cờ bạc, mặc dù chị H đã có thời gian về nước để hàn gắn tình cảm giữa vợ chồng nhưng không thành. Năm 2022 chị H tiếp tục sang làm việc tại Malaysia giữa chị H và anh T chính thức ly thân, không còn liên lạc với nhau, không còn quan tâm nhau dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh. Nay chị H nhận thấy tình trạng hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H xin được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên Lê Tiến T1, sinh ngày 16/02/2000 và Lê N, sinh ngày 12/02/2003, hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và sống tự lập được nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T tự thoả thuận về tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết; Chị H và anh T không có nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Chị H không thể về Việt Nam trong quá trình giải quyết ly hôn giữa chị và anh T, chị H xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết và có văn bản ủy quyền cho chị Lê Thị Bình T2, sinh năm 1996 và anh Nguyễn Văn Việt B, sinh năm 1999; cùng địa chỉ: Số E, ngách B, ngõ A Dương Q, Q, Cầu G, Hà Nội giao nhận các tài liệu thay chị H.

Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Lê Anh T nhiều lần trong quá trình giải quyết vụ án tuy nhiên anh T không hợp tác, không có ý kiến trình bày, tại phiên toà anh T vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Ngày 05/3/2024 Toà án tiến hành làm việc với bà Võ Thị V, mẹ ruột của chị Trần Thị H và là mẹ vợ của anh Lê Anh T cho biết: Năm 2022 anh T chuyển về sinh sống và đăng ký cư trú tại nhà của bà V tại xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay. Trong quá trình sống chung giữa chị H và anh T có mâu thuẫn do anh T chơi bời, không tập trung lo cho gia đình. Trong quá trình sống chung chị H và anh T có 02 con chung tên Lê Tiến T1, sinh ngày 16/02/2000 và Lê N, sinh ngày 12/02/2003, hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và sống tự lập được. Anh T và chị H không có tài sản chung, nợ chung. Ngoài ra anh T biết việc chị H nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, anh T đã nhận được các văn bản của Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 469; Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị H. Xử cho chị Trần Thị H được ly hôn với anh Lê Anh T.

Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên Lê Tiến T1, sinh ngày 16/02/2000 và Lê N, sinh ngày 12/02/2003, hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và sống tự lập được nên chị không giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh T tự thoả thuận về tài sản chung; Chị H và anh T không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Chị Trần Thị H khởi kiện ly hôn với anh Lê Anh T. Chị Trần Thị H có nơi trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Anh T có nơi cư trú tại ở hiện tại: Thôn P, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Tại Danh sách khách xuất nhập cảnh ngày 22/11/2023 trả lời công văn số 1514 ngày 08/11/2023 của Cục Q - Bộ C thể hiện: Chị Trần Thị H, sinh ngày 04/8/1980; địa chỉ: xã H, huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã xuất cảnh lần gần nhất ngày 25/10/2023 và chị H chưa có thông tin nhập cảnh về Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh quy định tại Điều 37; Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần 02 không có lý do. Do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn các đương sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H và anh Lê Anh T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh cấp ngày 11/02/1998 nên hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp. Chị H cho rằng vợ chồng mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và liên quan đến tiền bạc, anh T thường xuyên cờ bạc, mặc dù chị H đã có thời gian về nước để hàn gắn tình cảm giữa vợ chồng nhưng không thành. Năm 2022 chị H tiếp tục sang làm việc tại Malaysia giữa chị H và anh T chính thức ly thân, không còn liên lạc với nhau từ đó cho đến nay.

Chị H và anh T là vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương nhau, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình, nuôi dạy con cái. Chị H và anh T xảy ra mâu thuẫn cả hai đã hàn gắn nhưng không thành. Vợ chồng không còn quan tâm nhau, điều này cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho chị H ly hôn với anh T.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên Lê Tiến T1, sinh ngày 16/02/2000 và Lê N, sinh ngày 12/02/2003, hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và sống tự lập được nên không giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị H đề nghị chị và anh T tự thoả thuận về tài sản chung; Chị H trình bày chị H và anh T không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 469; Điều 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị H được ly hôn anh Lê Anh T.
  2. Về con chung: Chị H và anh T có 02 con chung tên Lê Tiến T1, sinh ngày 16/02/2000 và Lê N, sinh ngày 12/02/2003, hiện nay 02 con chung đã trưởng thành và sống tự lập được nên không giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị H đề nghị chị và anh T tự thoả thuận về tài sản chung; chị H trình bày chị H và anh T không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000664 ngày 16/10/2023 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh nên được khấu trừ.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Đức Long, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Văn Lam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về ly hôn

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị Hương - Anh Lê Anh Tuấn.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger