|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/DS-PT
Ngày 09 tháng 9 năm 2024
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hoàn và ông Ngô Thế Tương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 41/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 71/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1929; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trương Văn H1, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị M, sinh năm 1967; nơi cư trú: Xóm D, xã H, thị xã P, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn xin vắng mặt.
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1958; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Ông Trần Tiến K, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
- Anh Trần Tiến U, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Bà Trần Thị C. Có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T: Bà Phan Thị Minh H - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.
Người đại diện theo pháp luật của ông K: Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Tại đơn khởi kiện ngày 08/11/2023, lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T là bà Trần Thị C trình bày: Ông Trần Tiến Ô và bà Nguyễn Thị T có tài sản chung là thửa đất vườn diện tích 400m² tại thôn D, xã T, huyện H có nguồn gốc là của ông K1, cuối năm 1954 ông K1 chuyển vào miền N sinh sống thì đã bán lại cho ông Ô, đến nay các giấy tờ mua bán đã bị thất lạc và không còn. Ông bà sử dụng mảnh đất trên ổn định và không có tranh chấp. Đến năm 1986 khi đo đạc bản đồ 299 thì thửa đất trên mang tên ông Trần Tiến Ô thể hiện tại thửa số 263, tờ bản đồ số 9, diện tích 400m² loại đất vườn. Đến khi đo đạc bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2006 thì thửa đất trên được tách thành các thửa như sau: Thửa đất số 426, tờ bản đồ số 01, diện tích 104,1m², loại đất trồng cây lâu năm mang tên ông Trần Tiến Ô, bà Nguyễn Thị T; thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m², loại đất trồng cây lâu năm ghi tên ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M; một phần ngõ đi chung vào nhà ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M diện tích khoảng 47m²; phần diện tích còn thiếu khoảng 85m² được biến động sang các hộ liền kề. Qua đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ ngày 11/3/2024, diện tích thực tế của thửa đất 172m² và trên đất có 01 lò gạch chưa dỡ hết, 01 cây nhãn. Lý do có lò gạch, cây nhãn của ông H1 trên đất là do ông H1 có hỏi ông Trần Tiến Ô sử dụng nhờ một phần đất để lấy chỗ đốt lò gạch, trồng cây nhãn trên đó.
Vì vậy, bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông Trương Văn H1 phải trả lại diện tích đất là 211m² gồm: Thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m² và ngõ đi vào nhà ông Trương Văn H1 diện tích khoảng 47m². Sau đó bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc đòi trả lại 47m² đất ngõ, chỉ yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Trương Văn H1 và bà Trần Thị M phải trả lại cho bà thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m² mang tên Trương Văn H1, Trần Thị M theo đo đạc bản đồ năm 2006 (diện tích đất theo đo đạc thực tế là 172m²) và buộc ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M phải di dời toàn bộ phần lò gạch chưa dỡ hết và 01 cây nhãn đi để trả lại thửa đất cho bà Nguyễn Thị T.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/01/2024 và tại phiên tòa bị đơn ông Trương Văn H1 trình bày: Nguồn gốc thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m² tại thôn D, xã T, huyện H theo bản đồ đo đạc năm 2006 mang tên ông và bà Trần Thị M là của cụ ngoại ông để lại ông không biết tên). Năm 1954, cụ ngoại ông đi vào miền N sinh sống đã cho bố ông là ông Trương Văn N. Cụ ngoại ông cho bố ông không viết giấy tờ gì. Thửa đất trên có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đất ông Ô, bà T và đường giao thông, phía Nam giáp đất ông V, bà Đ, phía Đông giáp đường giao thông, phía Tây giáp đất ông T1, bà N1. Bố ông cho ông từ năm 1991 không có giấy tờ gì. Bố ông chết năm 2018 không để lại giấy tờ di chúc gì. Bản đồ 299 đo đạc năm 1986, thửa đất mang tên ông Trần Tiến Ô là chồng bà Nguyễn Thị T. Đến năm 2006 một phần diện tích mang tên ông Ô đã chuyển sang mang tên ông và bà Trần Thị M diện tích là 164m². Năm 1993, ông biết thửa đất trên mang tên ông Ô nên ông đã gặp ông Ô để đòi lại đất và ông Ô đã đồng ý trả lại đất cho ông nên khi đo đạc năm 2006 thì mới mang tên ông và bà M. Việc đòi đất giữa ông và ông Ô chỉ bằng miệng, không có giấy tờ văn bản gì. Thửa đất mang tên ông và bà M có 03 hộ giáp ranh giới thì chỉ có hộ ông V, bà Đ và hộ ông T1, bà N1 ký vào các chủ sử dụng đất tiếp giáp còn hộ ông Ô, bà T không ký. Năm 1986, khi đo đạc thì bố ông không có nhà nên nhà ông Ô có đất gần đó đã ra chỉ và nhận đó là đất nhà ông Trần Tiến Ô nên mới có việc ghi tên ông Trần Tiến Ô sử dụng toàn bộ thửa đất đó. Ông sử dụng từ năm 1991, mục đích chỉ làm vườn trồng chuối, đến năm 1993 thì ông phá chuối đi để làm nền đốt lò gạch, hiện nay lò gạch vẫn còn. Ông và bà M đã ly hôn năm 2017, khi ly hôn thì Toà án chưa giải quyết về chia thửa đất trên, giữa ông với bà M chỉ thoả thuận đây là đất ông cha để lại nên thuộc quyền sử dụng của riêng ông, không liên quan gì đến bà M. Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông phải trả lại cho bà T diện tích đất tại thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01 diện tích 164m², loại đất trồng cây lâu năm mang tên Trương Văn H1, Trần Thị M (theo đo đạc bản đồ năm 2006), qua đo đạc hiện trạng ngày 11/3/2024 diện tích thực tế là 172m² và phải di dời 01 lò gạch chưa dỡ hết, 01 cây nhãn để trả lại đất cho bà T thì ông không đồng ý.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2024, bà Trần Thị C trình bày: Bà là con gái của ông Trần Tiến Ô và bà Nguyễn Thị T. Trước năm 1986, thửa đất trên là của ông K1, đến khoảng năm 1954 ông K1 đi vào miền N sinh sống thì ông K1 đã bán lại cho bố mẹ bà, đến nay các giấy tờ mua bán đã bị thất lạc và không còn. Bố mẹ bà sử dụng mảnh đất trên ổn định và không có tranh chấp. Đến năm 1986, khi đo đạc bản đồ 299 thì thửa đất trên mang tên bố bà là ông Trần Tiến Ô, thể hiện tại thửa số 263, tờ bản đồ số 9, diện tích 400m² loại đất vườn. Bà không có ý kiến gì về việc bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M phải trả lại diện tích đất trên, bà cũng không yêu cầu chia thừa kế diện tích đất trên.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/02/2024 bà Nguyễn Thị C1 là đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Tiến K trình bày: Bà là vợ của ông Trần Tiến K (con của ông Ô, bà T), do ông K bị bệnh tâm thần nên bà đồng ý làm người đại diện theo pháp luật cho ông K, bà từ chối việc mời trợ giúp viên pháp lý cho ông K. Bà là con dâu của ông Ô và bà T và bà có nghe nói ngoài mảnh đất của ông Ô, bà T đang ở thì ông Ô, bà T còn có một mảnh đất vườn diện tích khoảng 400m², trước năm 1986 thửa đất trên là của ông K1, đến khoảng năm 1954 ông K1 đi vào miền N sinh sống thì ông K1 bán lại cho ông Ô, bà T. Bố mẹ chồng bà sử dụng mảnh đất trên ổn định và không có tranh chấp. Đến năm 1986, khi đo đạc bản đồ 299 thì thửa đất trên mang tên bố chồng bà là ông Trần Tiến Ô thể hiện tại thửa số 263, tờ bản đồ số 9, diện tích 400m² loại đất vườn. Bà không có ý kiến gì về việc bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn H1 phải trả lại diện tích đất trên, bà cũng không yêu cầu chia thừa kế diện tích đất trên. Do sức khỏe yếu nên bà đã có đơn đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 23/02/2024, anh Trần Tiến U trình bày: Anh là con duy nhất của ông Trần Tiến N2 (con trai của ông Ô, bà T), hiện nay ông N2 đã chết. Mẹ của anh tên Nguyễn Thị D, anh không có tin tức gì về mẹ anh. Hiện nay anh đang ở cùng nhà với bà nội là Nguyễn Thị T. Anh ở cùng nhà với ông bà nội nên anh được biết ngoài mảnh đất ông bà nội anh vẫn sinh sống thì ông nội anh còn có một mảnh vườn diện tích khoảng 400m² ở cùng địa chỉ ở thôn D, xã T. Nguồn gốc mảnh đất anh có nghe ông nội kể trước năm 1986 thửa đất trên là của ông K1, sau khi ông K1 đi vào miền N sinh sống nên ông nội anh đã sử dụng diện tích đất của ông K1. Đến năm 1986, khi đo đạc bản đồ 299 thì mang tên ông nội anh là ông Trần Tiến Ô, thể hiện tại thử số 263, tờ bản đồ số 9, diện tích 400m² loại đất vườn. Anh là con của ông Trần Tiến N2, là người thừa kế theo pháp luật của ông Trần Tiến N2 anh không có ý kiến gì về việc bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Trương Văn H1 cùng bà Trần Thị M phải trả lại diện tích đất trên, anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật và anh cũng không yêu cầu chia thừa kế diện tích đất trên cho anh. Anh đề nghị Toà án giao tất cả diện tích đất trên cho bà Nguyễn Thị T quản lý. Do công việc bận mải nên anh có đơn xin được giải quyết và xét xử vắng mặt.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 19/02/2024, bà Trần Thị M trình bày: Bà và ông Trương Văn H1 là vợ chồng và đã ly hôn năm 2017. Khi ly hôn thì bà để lại cho ông H1 sử dụng toàn bộ tài sản chung, giữa bà và ông H1 chưa phân chia tài sản chung của vợ chồng. Nguồn gốc thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m² tại thôn D, xã T, huyện H theo bản đồ đo đạc năm 2006 mang tên bà và ông Trương Văn H1 là của cụ bà (bà không biết tên) đã cho bố chồng bà là ông Trương Văn N. Đến cuối năm 1992, bố chồng bà cho vợ chồng bà và đã sử dụng từ đó đến nay. Khi cho thì chỉ nói chứ không có văn bản di chúc hay giấy tờ gì. Bản đồ 299 đo đạc năm 1986 mang tên ai thì bà không biết vì lúc đó bà chưa lấy ông H1. Năm 1993, ông H1 biết thửa đất trên mang tên ông Ô nên ông đã gặp ông Ô để đòi lại đất và ông Ô đã đồng ý trả lại đất cho ông H1 nên khi đo đạc năm 2006 thì mới mang tên bà và ông H1. Việc đòi đất giữa ông H1 và ông Ô chỉ bằng miệng không có giấy tờ văn bản gì. Thửa đất mang tên bà và ông H1 có 03 hộ giáp ranh giới thì chỉ có hộ ông V, bà Đ và hộ ông T1, bà N1 ký vào các chủ sử dụng đất tiếp giáp còn hộ ông Ô, bà T không ký. Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông H1 phải trả lại cho bà T diện tích đất tại thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m² loại đất trồng cây lâu năm mang tên Trương Văn H1, Trần Thị M (theo đo đạc bản đồ năm 2006) thì bà không đồng ý. Do điều kiện bà ở xa nên bà đã có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Bản án sơ thẩm số 25/2024/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã quyết định:
Căn cứ các Điều 158, Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự; các Điều 12, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 156, Điều 165, Điều 166, khoản 1, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M, cụ thể:
- Buộc ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M phải trả lại cho bà Nguyễn Thị T thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích theo đo đạc thực tế là 172,0m², địa chỉ tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, có các tứ cận và sơ đồ cụ thể kèm theo.
- Buộc ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M phải di dời 01 lò gạch đang dỡ dở và 01 cây nhãn trên diện tích đất trên.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với yêu cầu kiện đòi ông Trương Văn H1 phải trả lại diện tích đất ngõ đi khoảng 47m² tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/6/2024 và ngày 31/7/2024, ông Trương Văn H1 và bà Trần Thị M kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Tại phiên tòa, ông Trương Văn H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày tranh luận: Thửa đất 434, diện tích 164m² đất vườn có nguồn gốc là của bà Í là bà ngoại của ông, đã sử dụng từ những năm 1954, sau đó bà ngoại để lại cho bố ông là ông Trương Văn N. Năm 1991, bố ông lại cho lại ông nên ông đã san lấp đất vườn, làm nền để đốt một lò gạch phục vụ cho việc xây nhà năm 1993. Việc ông Ô đứng tên sử dụng đất trên bản đồ 299 là do thời điểm đo đạc năm 1986, bố ông không có nhà nên ông Ô chỉ cả phần đất của bố ông để kê khai sử dụng. Từ năm 1991, khi ông bắt đầu sử dụng đất thì được biết thửa đất này mang tên ông Ô nên đã sang nói chuyện và đòi lại đất nên năm 2006, thì ông H1 và bà M đã đứng tên sử dụng thửa đất 434, nộp thuế sử dụng đất cho đến nay. Vì vậy, ông cho rằng, thửa đất này thuộc quyền sử dụng đất của ông và bà M nên ông không đồng ý với bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông và bà M.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của của nguyên đơn trình bày: Thửa đất 434 có nguồn gốc là một phần thửa của ông Trần Tiến Ô, bà Nguyễn Thị T2 đã được ghi nhận quyền sử dụng đất trong sổ mục kê và bản đồ 299 đo đạc năm 1986 là thửa 263, tờ bản đồ số 9, diện tích 400m² loại đất vườn . Quá trình sử dụng đất, ông H1 có mượn một phần diện tích đất để đốt lò gạch, trồng cây nhãn trên đó. Vì vậy, năm 2006, khi đo đạc địa chính ghi nhận ông H1, bà M sử dụng thửa 434, diện tích 164m² vì có lò gạch của ông H1 trên đất. Mặt khác, bản đồ địa chính năm 2006 chỉ là đo đạng hiện trạng sử dụng đất, không phải là căn cứ xác lập quyền sử dụng đất của ông H1, bà M. Do vậy, kháng cáo của ông H1, bà M không có căn cứ chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông H1, bà M giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bà Trần Thị C nhất trí với quan điểm tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, không tranh luận bổ sung gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu quan điểm: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn H1 và bà Trần Thị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M làm trong hạn luật định nên được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông H1, bà M thì thấy: Theo sổ mục kê và bản đồ 299 đo đạc năm 1986, thì thửa đất số 263, tờ bản đồ số 9, diện tích 400m² loại đất vườn ghi tên chủ sử dụng là ông Trần Tiến Ô. Thời điểm đó ông Ô đã kết hôn với bà Nguyễn Thị T và cùng sử dụng ổn định thửa đất đó cho đến nay, không có tranh chấp gì. Ông Ô, bà T không chuyển nhượng, tặng cho ai một phần diện tích đất nào. Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định 43 của Chính phủ quy định về Giấy tờ khác lập trước ngày 15/10/1993 theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 100 của Luật Đất đai 2013 có tên người sử dụng đất gồm: “1. Sổ mục kê đất, sổ kiến điền lập trước ngày 18 tháng 12 năm 1980. 2. Một trong các giấy tờ được lập trong quá trình thực hiện đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299-TTg ngày 10 tháng 11 năm 1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký thống kê ruộng đất trong cả nước do cơ quan nhà nước đang quản lý...”. Như vậy, việc ông Trần Tiến Ô đã đứng tên sử dụng thửa đất số 263 được thể hiện trong sổ mục kê và bản đồ 299 năm 1986 thì được xác định là đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xác lập quyền sử dụng đất đối với thửa đất 263, diện tích 400m², bản đồ 299. Năm 2006, đo đạc hiện trạng thì thửa đất 263 lại có sự biến động, tách thành thửa đất số 426, tờ bản đồ số 01, diện tích 104,1m² đứng tên sử dụng ông Trần Tiến Ô, bà Nguyễn Thị T và thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m² đứng tên sử dụng ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M; một phần ngõ đi chung vào nhà ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M diện tích khoảng 47m² và phần diện tích còn thiếu khoảng 85m² theo xác minh tại UBND xã T thì được biến động sang các hộ liền kề. Việc biến động và tách thửa này cộng lại cũng tương ứng với diện tích thửa đất ban đầu của ông Ô, bà T là 400m². Mặt khác, ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M đứng tên sử dụng thửa đất 434 trên bản đồ đo đạc năm 2006 chỉ là thể hiện hiện trạng sử dụng đất của ông H1, bà M vì thời điểm đó trên thửa đất có lò gạch chưa dỡ hết của ông H1, bà M. Biên bản xác nhận hiện trạng sử dụng thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích 164m² đo đạc năm 2006 không có chữ ký giáp ranh, mốc giới của gia đình ông Trần Tiến Ô, bà Nguyễn Thị T. Trong quá trình tố tụng, ông H1 rất nhiều lần thay đổi nội dung lời khai về nguồn gốc thửa đất 434, ban đầu ông H1 cho rằng thửa đất này của của dòng họ ông H1, sau đó thống nhất giao lại cho ông H1 quản lý sử dụng, lúc thì ông H1 lại khai thửa đất này là của cụ ngoại ông H1 (ông H1 không nhớ tên) để lại cho ông Trương Văn N (bố ông H1), sau đó chuyển lại cho ông. Trong một số bản khai, ông H1 xác định năm 1991 - 1992, khi ông H1 lập nền đất để đốt lò gạch trên thửa đất 434 thì mới biết thửa đất của ông lại đứng tên ông Ô nên đã sang nói chuyện với ông Ô đòi lại đất nên ông Ô đã trả đất và để cho ông đốt lò gạch trên đó nhưng trong đơn đề nghị ông H1 nộp tại phiên toà phúc thẩm lại thể hiện: Năm 2006, gia đình ông T3, bà N1 ở cạnh nhà ông làm nhà mà không tìm được cọc mấp, nên đã lên xã đề nghị đo lại nhưng xã nói là đất này mang tên ông Ô nên ông có vào nhà ông Ô đòi đất thì ông Ô đồng ý trả lại đất cho ông nên ông mới kê khai đứng tên sử dụng đất trên bản đồ đo đạc năm 2006. Như vậy, lời khai của ông H1 là không thống nhất, không có căn cứ và theo hồ sơ quản lý đất đai tại địa phương thì không có tài liệu nào thể hiện cụ ngoại của ông H1 hay bố đẻ ông H1 là cụ Trương Văn N đứng tên sử dụng thửa đất nào tại vị trí giáp thửa đất của ông Ô từ trước năm 2006. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn H1 và bà Trần Thị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Hưng Hà.
[3] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của ông Trương Văn H1 không được chấp nhận nhưng ông H1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp tạm ứng án phí, án phí nên ông H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Kháng cáo của bà Trần Thị M không được chấp nhận nên bà M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng bà M đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0003840 ngày 06/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Hà sang thi hành án phí cho bà Trần Thị M.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn H1 và bà Trần Thị M, giữ nguyên Bản án số 25/2024/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
- Căn cứ các Điều 158, Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự; các Điều 12, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 156, Điều 165, Điều 166, khoản 1, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M.
- Buộc ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M phải trả lại cho bà Nguyễn Thị T thửa đất số 434, tờ bản đồ số 01, diện tích theo đo đạc thực tế là 172m², địa chỉ tại thôn D, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, có các tứ cận và sơ đồ cụ thể kèm theo như sau: Hướng Đông giáp đường giao thông dài 10,81m (được ký hiệu từ điểm 2 - 3); hướng Tây giáp đất của ông Nguyễn Văn T4, bà Nguyễn Thị N3 dài 3,47m + 2,94m + 0,97m + 6,02m (được ký hiệu từ điểm 4 - 5 - 6 - 7 - 8); hướng Nam giáp đất của ông Nguyễn Đắc V1, bà Nguyễn Thị Đ1 dài 11,37m (được ký hiệu từ điểm 3 - 4); hướng Bắc giáp đường giao thông và giáp đất ông Trần Tiến Ô, bà Nguyễn Thị T dài 9,44m + 13,14m (được ký hiệu từ điểm 8 - 1 - 2).
- Buộc ông Trương Văn H1, bà Trần Thị M phải di dời 01 lò gạch đang dỡ dở và 01 cây nhãn trên diện tích đất trên.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với yêu cầu kiện đòi ông Trương Văn H1 phải trả lại diện tích đất ngõ đi khoảng 47m² tại thôn D xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trương Văn H1. Bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển số tiền 300.000 đồng bà M đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 0003840 ngày 06/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hưng Hà sang thi hành án phí cho bà Trần Thị M.
- Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 09/9/2024.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Thái Bình;
- - TAND thành phố Thái Bình;
- - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
- - Các đương sự;
- - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Hà |
Bản án số 48/2024/DS-PT ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 48/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Trương Văn H tranh chấp quyền sử dụng đất
