Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HS-ST

Ngày: 09-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Huế.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đồng Thanh Bình;

Bà Hoàng Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Khắc N, sinh năm 1993, tại Thanh Hóa; địa chỉ thường trú: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: Áp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: Lớp 09/12; con ông Lê Khắc S, sinh năm 1968 và bà Lê Thị H, sinh năm 1974. Bị cáo có 01 người em, sinh năm 2005. Vợ Võ Thị Bích D, sinh năm 2001; bị cáo có 01 con trai, sinh ngày 28/8/2022. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Khắc N: Ông Phan Thanh B, Luật sư Chi nhánh Công ty TNHH L - Đoàn luật sư Thành phố H, luật sư B có mặt;

- Bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ C, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Khắc N và Lê Văn T cùng làm việc tại Công ty T2 thuộc ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; ông T là quản lý tổ bảo vệ, còn N là nhân viên bảo vệ của Công ty T2.

Khoảng 08 giờ 30 phút, ngày 19/8/2023, Thám đi kiểm tra nhân viên bảo vệ tại khu vực thuộc nhà xưởng số 8 của Công ty T2. Do không gặp N tại xưởng nên T nhắn lên số điện đàm nội bộ báo N không có mặt tại xưởng. Khi nghe thông báo lên điện đàm nội bộ thì N nhắn tin cho T hỏi vì nghĩ bị ông T phân biệt đối xử.

Do nhắn tin nhưng không được ông T giải thích và bị thách thức, liền lúc đó, khi ông T chạy đến gặp N tại cửa xưởng và bị ông T nhắc nhở trong cách làm việc nên N chạy đến đống pa lết lấy 01 thanh gỗ dài 125 cm, bản rộng 08 cm (cách chỗ T đứng khoảng 1,2 mét), đi lại đánh Thám 02 đến 03 cái, trúng vào vùng lưng và tay của T. Bị đánh, T bỏ chạy vào bên trong xưởng được 12 mét, thì N đuổi theo kịp và tiếp tục dùng thanh gỗ đánh T. T dùng tay đỡ và ôm N từ phía sau, hô hoán kêu công nhân đang làm việc đến can ngăn. Lúc này, Thiều Văn H1, Lê Văn K và Lê Văn T1, đến can ngăn. Thám buông N và chạy lại đống gỗ gần đó, dùng tay phải lấy 01 thanh gỗ dài 92,5 cm, bản rộng 6,5 cm để chống đỡ. N chạy theo tiếp tục đánh T thì T dùng thanh gỗ đánh vào thanh gỗ N đang cầm đánh nhưng đánh trúng vào đầu ngón III bàn tay phải của N làm rơi thanh gỗ. Một số công nhân chạy lại can ngăn, đưa T và N đi cấp cứu tại Bệnh viện. Công an xã T tiếp nhận vụ việc, lập hồ sơ ban đầu và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện B để xử lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: 01 thanh gỗ dài 125cm, bản rộng 08cm; 01 thanh gỗ dài 92,5cm, bản rộng 6,5cm.

Ngày 20/8/2023, Lê Văn T nộp đơn yêu cầu giám định thương tích và khởi tố vụ án hình sự. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 601/KLGĐ – TTPY ngày 17/10/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh B xác định tỷ lệ phân trăm tổn thương cơ thể của ông T tại thời điểm giám định là 09%. Không đồng ý với kết quả giám định, ngày 14/12/2023, ông T nộp đơn yêu cầu giám định lại. Tại bản Kết luận giám định lại tổn thương trên cơ thể trên người sống số 73/KLTTCT-PVPYQG ngày 15/3/2024 của P tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông T tại thời điểm giám định là 12%.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 217/2024/KLGĐ-TTPY ngày 15/4/2024 của Trung tâm P1, Sở Y tế tỉnh B xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Khắc N tại thời điểm giám định là 02%.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn T yêu cầu Lê Khắc N bồi thường 150.000.000 đồng. Tại Toà, bị cáo N với bị hại Thám thoả thuận mức bồi thường là 120.000.000 đồng, bị cáo N đã bồi thường xong. Bị hại có đơn bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 49/CT-VKS-BTU ngày 25/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Lê Khắc N về “Tội cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã xảy ra và xin lỗi bị hại.

Bị hại ông Lê Văn T trình bày: Ông đã được bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, điểm b và s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Khắc N từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong, bị hại không tiếp tục yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh gỗ dài 125cm, bản rộng 08cm là hung khí Lê Khắc N sử dụng đánh gây thương tích Lê Văn T; đối với 01 thanh gỗ dài 92,5cm, bản rộng 6,5cm là dụng cụ Lê Văn T sử dụng để chống đỡ khi bị Lê Khắc N gây thương tích. Đây là các công cụ phương tiện phạm tội, tài sản này cũng không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Người bào chữa cho bị cáo ông Phan Thanh B trình bày: Thống nhất với cáo trạng truy tố bị cáo Lê Khắc N về tội danh, điểm, khoản truy tố, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nhận thấy, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt trước khi phạm tội. Bị cáo đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả theo đề nghị của bị hại số tiền 120.000.000 đồng; sự việc gây thương tích xảy ra một phần do lỗi của bị hại, do mâu thuẫn, hiểu lầm giữa các bên nên bị cáo có hành vi bột phát, thiếu kiềm chế, không phải hành vi có chủ ý; bị cáo có trình độ hiểu biết pháp luật thấp. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được nêu tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Hiện vợ của bị cáo đã bỏ đi, bị cáo đang phải nuôi con dưới 3 tuổi và là lao động chính của gia đình, việc bắt bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tù gây khó khăn cho gia đình, đặc biệt là con của bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định mức hình phạt thấp nhất và căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo được sớm quay về hòa nhập với cộng đồng, làm công dân có ích cho xã hội.

Khi thực hiện quyền nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về đoàn tụ gia đình và làm công dân tốt cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của CQCSĐT, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng huyện B đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/8/2023, tại Công ty T2 thuộc xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, Lê Khắc N sử dụng hung khí là thanh gỗ dài 125cm, bản rộng 08cm đánh Lê Văn T gây thương tích với tỷ lệ là 12%. Hành vi trên đây của bị cáo đã phạm vào “Tội cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 49/CT-VKS-BTU ngày 25/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của bị hại, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng hiểu rõ hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì mâu thuẫn phát sinh trong quá trình làm việc mà không không báo cáo với cán bộ phụ trách của Công ty để có cách giải quyết phù hợp mà cố ý gây thương tích cho bị hại.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có;

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo đã bồi thường khắc phục toàn bộ hậu quả theo yêu cầu của bị hại; bị hại có đơn bãi nại và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, chưa từng có hành vi vi phạm pháp luật trước khi gây thương tích cho bị hại; bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; vợ bị cáo đã bỏ đi, hiện bị cáo đang trực tiếp nuôi con dưới 3 tuổi; bị cáo là lao động chính của gia đình; bị cáo có nơi cư trú ổn định; việc đánh nhau xảy ra một phần do mâu thuẫn trong công việc giữa bị cáo với bị hại nhưng chưa được giải quyết thỏa đáng, cách ứng xử của bị hại chưa đúng. Xét thấy, việc không bắt bị cáo N đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội và không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

[7] Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong về việc bồi thường thiệt hại. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 01 thanh gỗ dài 125cm, bản rộng 08cm là hung khí Lê Khắc N sử dụng đánh gây thương tích Lê Văn T; 01 thanh gỗ dài 92,5cm, bản rộng 6,5cm là dụng cụ Lê Văn T sử dụng để chống đỡ. Đây là các công cụ phương tiện phạm tội, tài sản này cũng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 38, điểm b và s khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo. Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

Tuyên bố bị cáo Lê Khắc Ngọc p “Tội cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Lê Khắc N 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày xét xử sơ thẩm 09/7/2024.

Giao bị cáo Lê Khắc N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2/ Về trách nhiệm dân sự: Không giải quyết do bị hại không yêu cầu.

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu, tiêu hủy đối với 01 thanh gỗ dài 125cm, bản rộng 08cm là hung khí Lê Khắc N sử dụng đánh gây thương tích Lê Văn T; đối với 01 thanh gỗ dài 92,5cm, bản rộng 6,5cm là dụng cụ Lê Văn T sử dụng để chống đỡ khi bị Lê Khắc N gây thương tích.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).

4. Án phí Hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Khắc N phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Công an huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - UBND xã Tân Lập, huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng (09);
  • - Lưu: HS, VT (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bích Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tội cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 48/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội Cố ý gây thương tích theo Điều 134 BLHS 2015
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger