TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA Bản án số: 48/2024/HSST. Ngày: 07 - 8 - 2024. | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kỳ Việt.
Các Hội thẩm nhân nhân: Ông Lò Văn Dưỡng, bà Tòng Trung Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2024/HSST ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST – HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lò Văn S; tên gọi khác: Không; sinh năm 2004 tại: Huyện Q, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 014204009939; nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T, sinh năm: 1984 và bà Là Thị N, sinh năm: 1984; bị cáo chưa có vợ; tiền án: không có; tiền sự: Ngày 01/8/2018 bị Công an huyện S xử phạt hành chính (Cảnh cáo) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Trong vụ án này bị cáo bị tạm giữ ngày 03/4/2024, chuyển tạm giam ngày 12/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
2. Bùi Văn Q; tên gọi khác: Không; sinh năm 1997 tại: Huyện S, tỉnh Sơn La; số định danh cá nhân: 01497007155; nơi cư trú: Bản T, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tòng Văn Q1, sinh năm 1973 và bà Bùi Thị M, sinh năm: 1972; bị cáo có vợ là Sa Thị T1, sinh năm 2000 (Đã ly hôn) và có 01 con chung sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 03/4/2024, chuyển tạm giam ngày 12/4/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 11 giờ 05 phút ngày 03/4/2024, tổ công tác Công an huyện S, tỉnh Sơn La làm nhiệm tại khu vực bản S, xã S, huyện S, phát hiện bắt quả tang Lò Văn S (Sinh năm 2004, đăng ký thường trú tại bản Muôn, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La) về hành vi cất dấu trái phép chất ma túy. Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:
- 01 gói nilon màu trắng, bên trong chứa 08 viên nén màu hồng, nghi là ma túy tổng hợp;
- 01 chiếc mô tô hiệu HONDA Wave a110, biển kiểm soát 26F1-184.88.
Quá trình lấy lời khai ban đầu Lò Văn S khai nhận nguồn gốc 08 viên nén ma tuý tổng hợp do S mua bằng số tiền 500.000 đồng. Trong đó có 250.000 đồng của S và 250.000 đồng do Bùi Văn Q (Sinh năm 1997 là phụ xe khách Dung D đi tuyến Số P - Hà Nội góp để mua ma tuý cùng nhau sử dụng.
Căn cứ vào lời khai của Lò Văn S, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Bùi Văn Q. Tại cơ quan CSĐT Công an huyện S Bùi Văn Q thừa nhận sáng ngày 03/4/2024 đã đưa Lò Văn S 250.000 đồng để S mua ma tuý cùng nhau sử dụng.
Ngày 03/4/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện S, tỉnh Sơn La, tiến hành cân tịnh số vật chứng là 08 viên nén màu hồng do thu giữ của Lò Văn S có tổng khối lượng là 0,87 gam. Lấy 04 viên có khối lượng 0,43 gam, đánh ký hiệu S làm mẫu gửi giám định. Số còn lại 04 viên có khối lượng 0,44 gam, đánh ký hiệu S1 lưu kho vật chứng.
Kết luận giám định số 848/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu S là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,43 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,87 gam, loại Methamphetamine".
Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện S, tỉnh Sơn La các bị can Lò Văn S và Bùi Văn Q khai nhận như sau:
Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, tại bến xe khách S (Bản S, xã S, huyện S) Lò Văn S là phụ xe khách Phượng Đ chạy tuyến Quảng Ninh - Số P gặp Bùi Văn Q là phụ xe khách Dung D chạy tuyến Số P - Hà Nội, do quen biết nhau từ trước nên S rủ Q góp tiền mua ma tuý để cùng nhau sử dụng, Q nhất trí đưa S 250.000 đồng, S nhận tiền từ sau đó thuê Lường Văn N1 (Sinh năm 2000, trú trại bản Nà Ản, xã M, huyện S) làm nghề xe ôm chở S đến bản N, xã S để mua ma tuý. Khi đến đầu bản Nà Dìa thì S bảo N1 đứng chờ còn mình thì đi bộ vào trong bản gặp 01 người đàn ông không quen biết đang đeo khẩu trang, S hỏi và mua được của người này 01 gói ma tuý được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong có 08 viên ma tuý với số tiền 500.000 đồng. Mua được ma tuý S cầm trong lòng bàn tay trái quay lại chỗ N1 đứng, sau đó yêu cầu được trực tiếp điều khiển xe mô tô chở theo N1 quay về bến xe khách Sốp Cộp. Trên đường về đến khu vực bản S, xã S, huyện S thì bị tổ công tác Công an huyện S phát hiện bắt quả tang khi đang cầm trong tay gói nilon màu trắng bên trong có 08 viên ma tuý, loại Methamphetamine như đã nêu.
Cáo trạng số 35/CT - VKSSC ngày 30/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La: Đề nghị truy tố các bị can Lò Văn S và Bùi Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
2
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, giữ quan điểm truy tố các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo từ 20 đến 26 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với các bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu hủy: 04 viên ma túy khối lượng 0,44 gam, loại Methamphetamine.
- Chấp nhận việc xử lý vật chứng của cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS: 26F1-184.88 cho chủ sở hữu hợp pháp là Lường Văn N1.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 26/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo Bùi Văn Q nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Miễn cho bị cáo Lò Văn S không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo S có ý kiến: Bản thân năm 2018 đã bị Công an huyện S xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; ngày 03/4/2024 tiếp tục rủ rê bị cáo Bùi Văn Q góp tiền mua ma tuý về cùng nhau sử dụng. Nay bị cáo đã biết tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bị cáo và của bị cáo Q mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Q có ý kiến: Nhất trí lời khai của bị cáo S về hành vi phạm tội theo Cáo trạng truy tố đối với 02 bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét việc bị cáo thành khẩn khai nhận tội giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện S Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội theo Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát: Tại phiên bị cáo Lò Văn S và Bùi Văn Q khai nhận ngày 03/4/2024, tại bến xe khách huyện S, bị cáo S đã rủ bị cáo Q góp tiền mua ma tuý để cùng nhau sử dụng, bị cáo Q nhất trí đưa bị cáo S 250.000 đồng, bị cáo S là người trực tiếp thuê xe ôm của Lường Văn N1 đi mua ma tuý ở bản N, xã S bằng số tiền 250.000 đồng của bị cáo và 250.000 đồng do bị cáo Q góp. Trên đường về qua khu vực bản S, xã S, huyện S thì bị tổ công tác Công an huyện S phát hiện bắt quả tang khi đang cầm gói nilon màu trắng bên trong có 08 viên ma tuý, khối lượng 0,87 gam, loại Methamphetamine như Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ là 0,87 gam Methamphetamine; kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đủ căn cứ kết luận các bị cáo S và Q đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định: “ Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: c) Heroine, C,Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[4] Hành vi tàng trữ trái phép 0,87 gam ma tuý, loại Methamphetamine của các bị cáo nhằm sử dụng cho bản thân là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý. Xâm hại đến chính sức khỏe của các bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho các loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng và còn là nguyên nhân làm phát sinh tệ nạn nghiện ma tuý tại địa phương. Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, với mục đích trừng trị răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Trong vụ án các bị cáo đồng phạm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong đó bị cáo S giữ vai trò khởi xướng và trực tiếp tìm mua ma tuý; bị cáo Q giữ vai trò hưởng ứng góp tiền mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Do đó cần áp dụng Điều 58 Bộ luật Hình sự; để xem xét tính chất, vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mỗi bị cáo làm căn cứ quyết định hình phạt.
[6] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng bị áp dụng.
- Tình tiết nhân thân: Bị cáo S đã từng bị xử phạt hành chính (Cảnh cáo) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy năm 2018. Mặc dù tính đến thời điểm phạm tội trong vụ án này đã được coi là chưa bị xử phạt hành chính, tuy nhiên cũng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu khi quyết định hình phạt.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, xét xử các bị cáo S và Q đã thành khẩn khai nhận tội. Do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ "Thành khẩn khai báo" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo S ngay sau khi bị bắt giữ đã khai ra đồng phạm là bị cáo Q. Nên được áp dụng thêm một tình tiết giảm nhẹ thứ hai "Người phạm tội hợp tác với cơ quan Điều tra trong việc phát hiện tội phạm", theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Xét các bị cáo không có tài sản để thi hành. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng.
[8] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 0,44 gam Methamphetamine (Số còn lại sau khi trích rút 0,43 gam gửi giám định) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, vật cấm lưu hành. Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với việc cơ quan Điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 26F1-184.88 cho anh Lường Văn N1. Do kết quả điều tra xác định anh N1 không biết bị cáo S thuê xe đi mua ma tuý. Do vậy việc trả xe cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ, theo quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
[9] Đối với nguồn gốc ma túy bị bắt giữ, theo bị cáo S khai do mua của 01 người đàn ông không quen biết tại bản N, xã S, huyện S. Quá trình điều tra ngoài lời khai bị cáo không cung cấp được thông tin về tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của đối tượng, do vậy không có cơ sở để điều tra xử lý.
[10] Án phí: Bị cáo Bùi Văn Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lò Văn S là đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[11] Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Lò Văn S 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/4/2024 (Ngày tạm giữ bị cáo).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Bùi Văn Q 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 03/4/2024 (Ngày tạm giữ bị cáo).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) Phong bì thư của Công an huyện S, tỉnh Sơn La, đã được niêm phong dán kín bằng giấy dán niêm phong, một mặt phong bì ghi: "Vật chứng lưu kho vụ: Lò Văn S - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 03/4/2024 tại bản Sốp Nặm, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La. Bên trong phong bì có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng đựng vật chứng ban đầu; 01 túi nilon màu trắng chứa 04 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,44 gam, ký hiệu S1 ". Theo Kết luận giám định số 848/KL-KTHS ngày 05/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S, thì 04 viên nén hình trụ tròn màu hồng có khối lượng 0,44 gam, ký hiệu S1 là ma túy, loại Methamphetamine.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Buộc bị cáo Bùi Văn Q nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
- Miễn cho bị cáo Lò Văn S không phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;
- Báo cho các bị cáo Lò Văn S và Bùi Văn Q biết quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (07/8/2024).
Nơi nhận:
| T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kỳ Việt |
Bản án số 48/2024/HSST ngày 07/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 48/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Văn S và Bùi Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
