Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ TÚ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/DS - ST.

Ngày: 07 - 8 - 2024.

“V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Duy Tân.
  2. Ông Lê Hoàng Điệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 70/2024/TLST - DS, ngày 13 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần S (sau đây gọi tắt là: Công ty); trụ sở chính: 128 N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Anh H, sinh năm 1997; địa chỉ: D, Lê Hồng P, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (theo văn bản ủy quyền ngày 01/10/2023) (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Kim H1, sinh năm 1999, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện lập ngày 07/12/2023, nguyên đơn Công ty cổ phần S có ngay cũng như tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Võ Anh H trình bày: Vào ngày 01/9/2022, ông Huỳnh Kim H1 có đến chi nhánh S1 của Công ty cổ phần S Có Ngay; tại địa chỉ D, Lê Hồng P, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, để ký hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo hợp đồng cầm cố số: STM220901003NA19X được ký giữa các bên ngày 01/9/2022 số đăng ký Giao dịch Đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục Đ: Giaodichdambao/botuphap: 1467363172 theo web https://dktructuyen.moj.gov.vn/ thì ông Huỳnh Kim H1 cầm cố tài sản là: 01 xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019. Để lấy số tiền là 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng); thời hạn cầm cố là 18 tháng (từ 01/9/2022 - 01/3/2024) với mức lãi suất là 1,1%/tháng; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho ông Huỳnh Kim H1. Ngoài ra, do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho ông Huỳnh Kim H1 mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ 01/9/2022 đến 01/10/2022 địa điểm trả xe là tại chi nhánh S1. Ông Huỳnh Kim H1 có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.

Từ khi vay đến nay thì ông H1 đã thanh toán tiền gốc, lãi là 7.045.000 đồng (bảy triệu không trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) và từ ngày 02/02/2023 thì ngưng đóng gốc, lãi cũng không trả lại xe máy cho Công ty. Nhân viên của Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà ông Huỳnh Kim H1 nhưng đều không có kết quả.

Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay là ông Võ A Hào xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Buộc bị đơn ông Huỳnh Kim H1 phải thanh toán một lần toàn bộ khoản nợ cho Công ty tính đến ngày 05/8/2024 với số tiền nợ gốc là 12.379.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng), tiền lãi tính đến ngày 05/8/2024 trong đó lãi trong hạn từ ngày 02/02/2023 đến ngày 01/3/2024 là 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), tiền lãi quá hạn từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/8/2024 là 3.554.000 đồng (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng), tổng cộng 17.703.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng); không yêu cầu lãi phát sinh theo hợp đồng kể từ ngày 06/8/2024. Xin rút lại yêu cầu phát mãi tài sản là xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019; rút lại yêu cầu về khoản phí 3,5% và phí theo dõi 300.000 đồng mỗi tháng kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Huỳnh Kim H1 không có ý kiến hay văn bản trả lời cho Tòa án.

- Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 309, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Buộc bị đơn ông Huỳnh Kim H1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S có ngay tổng số tiền là 17.703.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 12.379.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi tính đến ngày 05/8/2024 bao gồm lãi trong hạn là 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), lãi quá hạn là 3.554.000 đồng (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Công ty cổ phần S Có Ngay có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Huỳnh Kim H1 phải trả lãi cho Công ty cổ phần S Có Ngay đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phát mãi tài sản là xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019; yêu cầu về khoản phí 3,5% và phí theo dõi 300.000 đồng mỗi tháng kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay thống nhất trường hợp khi ông Huỳnh Kim H1 thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi thì nguyên đơn Công ty cổ phần S sẽ giao trả lại cho ông Huỳnh Kim H1 bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019 đối với xe mô tô biển kiểm soát soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770 do ông Huỳnh Kim H1 đứng tên.

Ngoài ra, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ông Huỳnh Kim H1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Huỳnh Kim H1.

Bên cạnh đó, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay là ông Võ A Hào vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt. Nên căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Võ Anh H.

[2] Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay là ông Võ A Hào xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Rút lại yêu cầu phát mãi tài sản là xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019; rút lại yêu cầu về khoản phí 3,5% và phí theo dõi 300.000 đồng mỗi tháng kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện nên theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phát mãi tài sản là xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019; yêu cầu về khoản phí 3,5% và phí theo dõi 300.000 đồng mỗi tháng kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

[3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn ông Huỳnh Kim H1 có nghĩa vụ trả số tiền nợ gốc là 12.379.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng) Hội đồng xét xử thấy rằng: Để chứng minh cho việc bị đơn ông Huỳnh Kim H1 có vay vốn, Công ty cung cấp cho Tòa án chứng cứ là hợp đồng cầm cố tài sản số: hợp đồng cầm cố số: STM220901003NA19X được ký giữa các bên ngày 01/9/2022 số đăng ký Giao dịch Đảm bảo trên Hệ thống Đăng ký Trực tuyến của Cục Đ: Giaodichdambao/botuphap: 1467363172 theo web https://dktructuyen.moj.gov.vn/ và phụ lục hợp đồng và Công ty đã giải ngân số tiền 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) chuyển cho người thụ hưởng là Huỳnh Kim H1, số tài khoản 74210000540434 tại Ngân hàng B Chi nhánh S1 với nội dung chuyển tiền cho khách hàng Huỳnh Kim H1; phiếu chi số tiền 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) có chữ ký của người nhận tiền là Huỳnh Kim H1 và các giấy tờ khác có liên quan. Xét thấy, về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định của pháp luật nên được thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký; đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông H1 biết nhưng ông H1 không có ý kiến phản đối gì. Do đó, Hội đồng xét xử khẳng định ông H1 đã vay và nhận đủ của Công ty số tiền là 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Quá trình thực hiện hợp đồng, theo lịch sử thanh toán do Công ty cung cấp thể hiện sau khi vay ông H1 đã trả cho Công ty được số tiền gốc là 4.121.000 đồng (Bốn triệu một trăm hai mươi mốt nghìn đồng). Do đó, việc ông H1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm Điều 4 của Hợp đồng cầm cố tài sản và Điều 4 của phụ lục hợp đồng mà các bên đã ký kết, ông H1 là người có lỗi, là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Vì vậy, việc nguyên đơn Công ty yêu cầu thu hồi nợ trước hạn và buộc bị đơn ông H1 phải trả cho Công ty số tiền vay gốc còn nợ là 12.379.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng) là phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 309, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Xét yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại hợp đồng cầm cố tài sản số: STM220901003NA19X được ký giữa các bên ngày 01/9/2022 đã giao kết mức lãi suất là 1,1%/tháng; lãi suất nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Do đó, mức lãi suất của hợp đồng các bên đã ký kết là phù hợp theo quy định tại khoản 6 Điều 29 Nghị định 96/2016/NĐ-CP01/7/2016 của Chính phủ, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lãi cho nguyên đơn theo hợp đồng đã giao kết. Việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng từ ngày 02/02/2023 đã vi phạm hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, ông H1 phải có nghĩa vụ trả cho Công ty số tiền lãi theo giao kết của hợp đồng đến ngày 05/8/2024 với số tiền lãi trong hạn từ ngày 02/02/2023 đến ngày 01/3/2024 là 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), tiền lãi quá hạn từ ngày 02/3/2024 đến ngày 05/8/2024 là 3.554.000 đồng (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng) là có căn cứ, phù hợp với nội dung thỏa thuận về việc trả nợ gốc lãi, chuyển nợ quá hạn tại hợp đồng cầm cố tài sản đã ký kết nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy, bị đơn ông Huỳnh Kim H1 có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn tổng cộng số tiền là 17.703.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 12.379.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi tạm tính đến ngày 05/8/2024 bao gồm lãi trong hạn là 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), lãi quá hạn là 3.554.000 đồng (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng).

[5]. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trường hợp khi ông H1 thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi sẽ giao trả lại cho ông H1 bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019 đối với xe mô tô biển kiểm soát soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770 do ông Huỳnh Kim H1 đứng tên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[6]. Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn phải chịu 885.150 đồng (T trăm tám mươi nghìn một trăm năm mươi đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 309, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

  1. Buộc bị đơn ông Huỳnh Kim H1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S có ngay tổng số tiền là 17.703.000 đồng (Mười bảy triệu bảy trăm lẻ ba nghìn đồng). Trong đó, số tiền gốc là 12.379.000 đồng (Mười hai triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng) và tiền lãi trong hạn là 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng), lãi quá hạn là 3.554.000 đồng (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn đồng).

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Công ty cổ phần S Có Ngay có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng ông Huỳnh Kim H1 phải trả lãi cho Công ty cổ phần S Có Ngay đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu phát mãi tài sản là xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770; Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019; yêu cầu về khoản phí 3,5% và phí theo dõi 300.000 đồng mỗi tháng kể từ ngày vi phạm nghĩa vụ thanh toán.
  3. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn Công ty cổ phần S Có Ngay thống nhất trường hợp khi ông Huỳnh Kim H1 thực hiện xong nghĩa vụ trả tiền gốc và lãi thì nguyên đơn Công ty cổ phần S sẽ giao trả lại cho ông Huỳnh Kim H1 bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 270094 do Công an tỉnh S cấp ngày 22/8/2019 đối với xe mô tô biển kiểm soát soát 83P4 - 139.65, loại xe Honda Vision màu: Xanh nâu, số khung RLHJF5831KZ453797, số máy JF86E5023770 do ông Huỳnh Kim H1 đứng tên.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn ông Huỳnh Kim H1 phải chịu 885.150 đồng (T trăm tám mươi nghìn một trăm năm mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Nguyên đơn Công ty cổ phần S có ngay không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S có ngay số tiền tạm ứng án phí là 599.075 đồng (Năm trăm chín mươi chín nghìn không trăm bảy mươi lăm đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003558, ngày 09/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định pháp luật.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bên đương sự;
  • - VKSND huyện Mỹ Tú;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thanh Hoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DS - ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

  • Số bản án: 48/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger