TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 48/2024/HSST Ngày: 07/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Diễm Anh Trúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phụng Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đặng Thế N, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Đặng Văn M, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Bạch N1, sinh năm 1964; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 04/3/2024 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma tuý; Nhân thân: 1/Ngày 06/6/2022 bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã nộp phạt; 2/Ngày 11/4/2024 bị Toà án nhân dân thị xã Đông Hoà xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 3/Ngày 10/4/2024 bị Công an phường P xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2024, có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Công ty TNHH B; địa chỉ: Tầng F Tòa nhà S, số B H, phường E, thành phố T, Phú Yên.
Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Quang T – Giám đốc
Đại diện theo uỷ quyền: Bà Lê Thị Duy N2 – sinh năm 1988; trú tại: khu phố P, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1982; trú tại: khu phố A, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- Nguyễn Văn H, sinh năm 1953; trú tại: khu phố A, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
Người làm chứng: Đinh Duy T2, sinh năm 1990; trú tại: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 04/3/2024, Đặng Thế N đã bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản và sử dụng trái phép chất ma tuý. Khoảng 08 giờ ngày 06/4/2024, Đặng Thế N nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài nên mượn xe mô tô biển số 78N1-4364 của ông Nguyễn Văn H (cậu của N) sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp nhưng nói là mượn đi công việc. N mang theo 01 cái búa bằng kim loại, 01 mũi đục bằng kim loại, 01 sợi dây cao su rồi điều khiển xe mô tô đi đến khu vực C thuộc khu phố E, phường P, thành phố T, dùng dụng cụ mang theo lén lút cắt, tháo 01 trụ kim loại kích thước 02m, đường kính 08cm và 01 cuộn dây thép gai của Công ty TNHH B. Nguyện để số tài sản lên xe mô tô định đem đi tiêu thụ thì bị người dân phát hiện, báo Công an phường P lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ cùng tang vật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 23/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 trụ tròn bằng sắt đã rỉ sét và 01 cuộn dây thép gai có giá trị 120.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- Đã trả lại chủ sở hữu: 01 xe mô tô biển số 78N1-4364; 01 trụ sắt và 01 cuộn dây thép gai.
- Tạm giữ chờ xử lý: 01 cái búa bằng kim loại dài 33,5cm, đầu búa kích thước (14x3x2,5)cm; 01 mũi đục bằng kim loại dài (17,5x3)cm; 01 sợi dây cao su dài 1,8m, rộng 3cm, dày 0,1cm.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKSTH ngày 23/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đã truy tố bị cáo Đặng Thế N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Đặng Thế N phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/4/2024. Áp dụng khoản 2 Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt bản án trước. Về trách nhiệm dân sự: không xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 cái búa bằng kim loại dài 33,5cm, đầu búa kích thước (14x3x2,5)cm; 01 mũi đục bằng kim loại dài (17,5x3)cm; 01 sợi dây cao su dài 1,8m, rộng 3cm, dày 0,1cm. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như quyết định truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Đủ cơ sở để kết luận: Ngày 06/4/2024, tại khu V thuộc khu phố E, phường P, thành phố T, Đặng Thế N đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng lại có hành vi lén lút chiếm đoạt của Công ty TNHH B 01 trụ kim loại và 01 cuộn dây thép gai trị giá 120.000 đồng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 03/QĐ-VKSTH ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa và luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.1] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, từng nhiều lần vi phạm pháp luật về cùng một hành vi trộm cắp tài sản nhưng không chịu cải tạo mà lại tiếp tục phạm tội là thể hiện sự coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải về những hành vi sai trái mình đã gây ra. Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng cho bị cáo, răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[2.2] Tuy nhiên, xét tài sản bị chiếm đoạt có giá trị 120.000 đồng nên bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3] Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không xét.
[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái búa bằng kim loại dài 33,5cm, đầu búa kích thước (14x3x2,5)cm; 01 mũi đục bằng kim loại dài (17,5x3)cm; 01 sợi dây cao su dài 1,8m, rộng 3cm, dày 0,1cm (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà): là tang vật phạm tội, vật có giá trị sử dụng thấp nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Thế N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Thế N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06/4/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 cái búa bằng kim loại dài 33,5cm, đầu búa kích thước (14x3x2,5)cm; 01 mũi đục bằng kim loại dài (17,5x3)cm; 01 sợi dây cao su dài 1,8m, rộng 3cm, dày 0,1cm (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hoà).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đặng Thế N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Diễm Anh Trúc |
Bản án số 48/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 48/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm
