TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 48/2024/DS-PT Ngày: 07 - 5 - 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Ngân
Các Thẩm phán:Ông Phạm Hoàng Lâm
Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 23/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Hồng S, sinh năm 1956
Địa chỉ: ấp N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965.
Địa chỉ: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn:
Bà Lê Thị B, sinh năm 1956
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị B: Ông Hồ Quốc T, sinh năm 1956.
Địa chỉ: A, ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
- Ông Phạm Văn S1, sinh năm 1974
- Bà Phạm Thị N, sinh năm 1979
- Ông Phạm Văn K, sinh năm 1981
Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 2010
Cùng địa chỉ: ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo pháp luật của ông Nguyễn Văn H1: Bà Lê Thị B, sinh năm 1956.
Địa chỉ: ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hồ Ngọc C, sinh năm 1953
Địa chỉ: ấp N, thị trấn N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang
Địa chỉ: ấp 1, thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc Thanh T1 – Chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh Hậu Giang
Địa chỉ: đường Võ Văn Kiệt, phường 5, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn N1 – Chức vụ: Phó Giám đốc.
- Người kháng cáo: bị đơn bà Lê Thị B, bà Phạm Thị N, ông Phạm Văn K, ông Phạm Văn S1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Đoàn Hồng S trình bày: Ngày 24/11/2003 ông có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Văn C1, bà Lê Thị B phần đất ngang 04m, dài 73m, diện tích 292m² với giá là 4.500.000 đồng; hai bên có lập “Giấy sang nhượn” viết tay.
Ngày 10/11/2004, ông tiếp tục nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Phạm Văn C1, bà Lê Thị B phần đất liền kề với phần đã sang vào ngày 24/11/2003 với kích thước ngang 04m, dài 73m, diện tích 292m² với giá là 6.500.000đ; hai bên có lập “Giấy sang nhượn” viết tay.
Sau khi nhận chuyển nhượng ông đã giao đủ tiền và nhận đất canh tác từ năm 2003 đến nay, lúc giao đất ông C1 đã cậm trụ đá phân ranh và bàn giao đất cho ông sử dụng; còn việc giao tiền thì có ghi vào giấy chuyển nhượng do vợ chồng ông C1, bà B trực tiếp nhận. Phần đất này, ông C1 và bà B chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho ông. Hiện ông Phạm Văn C1 đã chết, vợ ông C1 là bà Lê Thị B cùng các con bà B không đồng ý sang tên phần đất này cho ông. Phần đất này hiện Nhà nước đã thu hồi một phần với diện tích là 38,6m² để làm dự án đường T, ông đồng ý với quyết định thu hồi đất, không có khiếu nại gì.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “Giấy sang nhượn” lập ngày 24/11/2003 và ngày 10/11/2004. Công nhận cho ông được quyền sử dụng đất diện tích theo đo đạc thực tế là 504,8m², tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L tỉnh Hậu Giang. Đối với số tiền nhà nước đền bù giải phóng mặt bằng thì ông yêu cầu cho ông được nhận.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Lê Thị B trình bày:
Chồng của bà ông Phạm Văn C1 đã chết năm 2021. Trước đây vợ chồng bà có chuyển nhượng cho ông Đoàn Hồng S một phần đất và ông S đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xong. Sau đó, bà không nhớ rõ ngày, tháng, năm nào, vợ chồng bà có cố cho ông Đoàn Hồng S một phần đất liền kề với phần đã chuyển nhượng trước đó. Phần đất cố có kích thước ngang 04m, chiều dài không biết bao nhiêu chỉ biết là tính từ mặt trước giáp lộ đến giáp phần mương phía sau. Lúc cố không có làm giấy tờ gì chỉ thỏa thuận bằng lời nói, giá cố là 4.000.000đ; thời hạn chuộc là 03 năm. Đến hạn 03 năm, bà yêu cầu chuộc đất nhưng ông S không cho chuộc và phát sinh tranh chấp từ năm 2004 đến nay. Trong phần tranh chấp Nhà nước đã thu hồi diện tích 38,6m² để làm dự án đường T, bà đồng ý với quyết định thu hồi đất, không có khiếu nại gì.
Nay bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Hồng S. Bà yêu cầu ông Đoàn Hồng S cho bà được chuộc lại phần đất đã cố theo đo đạc thực tế diện tích 253,5m² với số tiền là 4.000.000đ; đất tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Đối với số tiền nhà nước đền bù giải phóng mặt bằng thì bà yêu cầu được nhận.
Bị đơn anh Phạm Văn S1, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn K (là các con của bà Lê Thị B), anh Nguyễn Văn H1 (là cháu của bà Lê Thị B) cùng trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của bà Lê Thị B. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Ngọc C (là vợ ông Đoàn Hồng S) trình bày: Bà thống nhất với ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Đoàn Hồng S. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L do ông Trần Ngọc T2 Thòn là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Theo Quyết định số 2557/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2022 Ủy ban nhân dân huyện L đã thu hồi diện tích 38,6m² đất của bà Lê Thị B đang tranh chấp với ông Đoàn Hồng S để thực hiện đầu tư xây dựng công trình đường T (đoạn từ xã V đến cầu X). Đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quyết định số 2570/QĐ-UBND ngày 21 tháng 9 năm 2022 với diện tích 9,7m², số tiền bồi thường, hỗ trợ là 3.666.600đ; và quyết định số 2688/QĐ-UBND ngày 03 tháng 8 năm 2023 với diện tích 28,9m², số tiền bồi thường, hỗ trợ là 13.047.200đ. Tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 16.713.800đ. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Hậu Giang do ông Đặng Văn N1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 21 tháng 9 năm 2022 Ủy ban nhân dân huyện L đã ban hành Quyết định số 2557/QĐ-UBND thu hồi diện tích 38,6m² đất của bà Lê Thị B đang tranh chấp với ông Đoàn Hồng S để thực hiện đầu tư xây dựng công trình đường T (đoạn từ xã V đến cầu X); đã phê duyệt phương án bồi thường xong, số tiền được bồi thường tổng cộng là 16.713.800đ. Hiện số tiền này chưa được chi trả do có tranh chấp đất; khi nào Tòa án giải quyết tranh chấp xong thì sẽ chi trả cho người được nhận bồi thường, hỗ trợ theo quyết định của Tòa án. Vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Hồng S.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị B.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 24/11/2003 và ngày 10/11/2004 giữa ông Phạm Văn C1, bà Lê Thị B với ông Đoàn Hồng S.
- Công nhận cho ông Đoàn Hồng S được quyền sử dụng đất diện tích 504,8m² tại một phần thửa 609, loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 9; tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vị trí, diện tích, kích thước theo Mảnh trích đo địa chính số 50/SHC ngày 24/7/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ.
- Ông Đoàn Hồng S được sở hữu số tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất là 16.713.800đ (mười sáu triệu bảy trăm mười ba nghìn tám trăm đồng).
- Đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc chỉnh lý biến động, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30 tháng 8 năm 2023, bị đơn bà Lê Thị B, anh Phạm Văn K và chị Phạm Thị N có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị đơn; bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, bị đơn ông Phạm Văn S1 có đơn kháng cáo. Nội dung kháng cáo: yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của bị đơn; bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, thống nhất theo nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên không có cơ sở xem xét chấp nhận. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp còn thiếu, cần xác định thêm tranh chấp tiền đền bù giải phóng mặt bằng; đồng thời chưa tuyên về phần án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà B không được chấp nhận đối với số tiền đền bù mặc dù bà B được miễn án phí vì là người cao tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/8/2023 bị đơn bà Lê Thị B, anh Phạm Văn K và chị Phạm Thị N và ngày 06/9/2023 bị đơn Phạm Văn S1 có đơn kháng cáo đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét kháng cáo của các bị đơn:
[2.1] Nguồn gốc phần đất tranh chấp: Phần đất tranh chấp trước đây là của ông Phạm Văn C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00227 ngày 05/8/2003. Vợ chồng ông C1 là người trực tiếp canh tác đất. Đến năm 2003, bị đơn cho rằng có cố cho nguyên đơn một phần diện tích 253,5m²; còn nguyên đơn xác định rằng nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông C1, bà B vào ngày 24/11/2003 và ngày 10/11/2004 và đã nhận đất canh tác từ năm 2003 đến nay nhưng chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất.
[2.2] Phần đất tranh chấp thể hiện tại vị trí (I), (II) diện tích 504,8m², loại đất trồng cây lâu năm theo Mảnh trích đo địa chính số 50/SHC ngày 24/7/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ; đất tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
[2.3] Các bị đơn kháng cáo cho rằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân huyện L chỉnh lý trang 4 vào ngày 08/10/2003, thể hiện diện tích còn lại hộ ông Phạm Văn C1 được sử dụng là 3.638m². Và nguyên đơn cho rằng đã ký chuyển nhượng đất từ ông C1 và bà B theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 24/11/2003 và ngày 10/11/2004 là không phù hợp với quy định của luật đất đai đối với trường hợp đất cấp cho hộ mà khi ông S nhận chuyển nhượng chỉ có chữ ký của ông C1 và bà B mà không có các thành viên khác trong hộ ký tên. Hội đồng xét xử nhận thấy ông Phạm Văn C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00227 ngày 05/8/2003 là cấp cho ông Phạm Văn C1 chứ không cấp cho hộ Phạm Văn C1, việc chỉnh lý tại trang 4 sau khi có biến động về đất đai thành hộ ông Phạm Văn C1 không có ý nghĩa là phần đất còn lại là cấp cho hộ ông Phạm Văn C1. Theo lời trình bày của bị đơn bà Lê Thị B thì trước đây vợ chồng bà có chuyển nhượng cho nguyên đơn một phần đất và ông S cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua lời trình bày của bà B cho thấy bà thừa nhận phần đất này là của vợ chồng bà nên chỉ có vợ chồng bà chuyển nhượng cho ông S một phần trước đó. Các bị đơn kháng cáo đưa ra lý do phần đất còn lại được cấp cho hộ ông Phạm Văn C1 và khi chuyển nhượng đất phải có ý kiến của các thành viên khác trong hộ ông Phạm Văn C1 là không có cơ sở để chấp nhận.
[2.3] Việc bị đơn cho rằng chỉ cố phần đất đang tranh chấp diện tích 253,5m² cho nguyên đơn với giá 4.000.000 đồng nhưng bị đơn không cung cấp được giấy tờ gì chứng minh cho việc cố đất và không được nguyên đơn thừa nhận. Trong khi đó, nguyên đơn có xuất trình chứng cứ là “Giấy sang nhượn” lập vào ngày 24/11/2003, ghi giá chuyển nhượng là 4.500.000 đồng và “Giấy sang nhượn” lập vào ngày 10/11/2004, ghi giá chuyển nhượng là 6.500.000 đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng thì nguyên đơn đã giao đủ tiền và bị đơn cũng đã giao đất cho nguyên đơn canh tác. Phía bị đơn có cặm trụ đá phân ranh hiện trụ đá giáp ranh với đất của bà B đang sử dụng vẫn còn hiện hữu; từ năm 2003 đến nay, bà B cũng không có động thái nào yêu cầu được chuộc lại đất và không tranh chấp với ông S cho đến khi ông S đi khởi kiện. Do đó, cấp sơ thẩm xác định ông Phạm Văn C1, bà Lê Thị B có chuyển nhượng phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế diện tích 504,8m² cho ông Đoàn Hồng S là có căn cứ.
[2.4] Xét tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “Giấy sang nhượn” lập ngày 24/11/2003 và ngày 10/11/2004 giữa ông Phạm Văn C1, bà Lê Thị B với ông Đoàn Hồng S:
Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản viết tay, trong đó có ghi kích thước và các nội dung liên quan đến phần đất chuyển nhượng. Tuy nhiên, hợp đồng chưa được công chứng, chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
Về nội dung: Tại thời điểm chuyển nhượng, phần đất này không phát sinh tranh chấp; ông C1 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và là người đứng tên chuyển nhượng, có thể hiện chữ ký của bên chuyển nhượng trong hợp đồng là ông C1, bà B cũng có biết việc chuyển nhượng. Phần đất đã chuyển nhượng do cá nhân ông C1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng thì ông S đã giao đủ tiền cho cả 02 phần đất và đã nhận đất canh tác từ năm 2003, 2004, trong thời gian đó ông C1, bà B cũng không có khiếu nại hay tranh chấp. Như vậy, cả 02 hợp đồng đã được xác lập thể hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của các bên khi tham gia giao kết hợp đồng, tổng diện tích của 02 lần chuyển nhượng là 543,4m² (trong đó nhà nước đã thu hồi 38,6m² để thực hiện Dự án xây dựng công trình đường T, còn lại diện tích theo đo đạc thực tế là 504,8m²).
[2.5] Về thời hạn thực hiện giao dịch được xác định là từ khi xác lập giao dịch cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện ông S chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đây là giao dịch đang được thực hiện; về nội dung, hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết tranh chấp là đúng với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, tuy thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng đất theo hợp đồng chỉ lập giấy viết tay. Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015, tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 nhưng bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện xong nghĩa vụ giao vàng cho người chuyển nhượng và bên chuyển nhượng cũng đã giao đất cho người nhận chuyển nhượng canh tác từ năm 2003, 2004 là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực. Điều này phù hợp với Án lệ số 55 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.
Nên Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 24/11/2003 và ngày 10/11/2004 giữ ông Phạm Văn C1, bà Lê Thị B với ông Đoàn Hồng S. Đồng thời công nhận cho bị đơn được sở hữu số tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất là 16.713.800 đồng là giải quyết triệt để vụ án. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa tuyên về phần án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu phản tố của bị đơn bà B không được chấp nhận đối với số tiền đền bù mặc dù bà B được miễn án phí vì là người cao tuổi nên Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữa nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định. Bà Lê Thị B là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị B, bà Phạm Thị N, ông Phạm Văn K và ông Phạm Văn S1;
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Áp dụng:
- - Các Điều 116, khoản 2 Điều 129 của Bộ luật dân sự 2015; Án lệ số 55 được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.
- - Điều 100 Luật đất đai 2013;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về qui định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Hồng S.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Lê Thị B.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 24/11/2003 và ngày 10/11/2004 giữa ông Phạm Văn C1, bà Lê Thị B với ông Đoàn Hồng S.
- Công nhận cho ông Đoàn Hồng S được quyền sử dụng đất diện tích 504,8m² tại một phần thửa 609, loại đất trồng cây lâu năm, tờ bản đồ số 9; tọa lạc tại ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Vị trí, diện tích, kích thước theo Mảnh trích đo địa chính số 50/SHC ngày 24/7/2023 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ. (kèm theo mảnh trích đo).
- Ông Đoàn Hồng S được sở hữu số tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất là 16.713.800 đồng (mười sáu triệu bảy trăm mười ba nghìn tám trăm đồng).
- Đương sự có quyền, nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc chỉnh lý biến động, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhận tiền bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất theo quy định pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị B, anh Phạm Văn S1, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn K phải chịu 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm nghìn đồng), nộp để hoàn trả cho ông Đoàn Hồng S.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị B được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Anh Phạm Văn S1, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị B được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Anh Phạm Văn S1, chị Phạm Thị N, anh Phạm Văn K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007087 ngày 18/9/2023, biên lai số 0007077, 0007076 ngày 31/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 07/5/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Ngân |
Bản án số 48/2024/DS-PT ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 48/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm