Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỚI LAI

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/HNGĐ-ST

Ngày 07 - 5 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi dưỡng con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tuấn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lý Văn Til.
  2. Ông Nguyễn Hữu Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi dưỡng con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 214/2024/QĐST ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1990. Có mặt

Trú tại: ấp T H A, thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Ông Phan Lương N, sinh năm 1978. Vắng mặt

Trú tại: ấp T H A, tt T L, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trình bày của các đương sự, vụ án được tóm tắt như sau:

Bà Nguyễn Thị Cẩm T với ông Phan Lương N tự nguyện tìm hiểu rồi tiến tới xây dựng hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tt T L, huyện Thới Lai vào ngày 27/7/2009. Vợ chồng chung sống với nhau có 03 con chung là Phan Minh Nhựt, sinh ngày 17/11/2010 (nam); Phan Gia Bảo, sinh ngày 01/12/2012 (nam); Phan Ngọc Kim, sinh ngày 25/01/2008 (nữ). Bắt đầu phát sinh mâu thuẩn từ năm 2019, đến năm 2023 thì vợ chồng mâu thuẩn ngày càng trầm trọng do ông N cờ bạc dẫn đến nợ nần, không quan tâm đến vợ con, bà cũng đã tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay bà khởi kiện yêu cầu như sau:

  • - Về hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Phan Lương N.
  • - Về con chung: có 03 con chung là Phan Minh N, sinh ngày 17/11/2010 (nam); Phan Gia Bảo, sinh ngày 01/12/2012 (nam); Phan Ngọc Kim, sinh ngày 25/01/2008 (nữ). Các con hiện tại đang sống với bà, bà yêu cầu được tiếp nuôi các con đến trưởng thành, không yêu cầu ông Nghãi phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Bà Nguyễn Thị Cẩm T khởi kiện xin ly hôn với ông Phan Lương N nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình; bị đơn cư trú ấp T H A, tt T L, huyện Thới Lai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thới Lai quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a K1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Thới Lai, huyện Thới Lai, TP Cần Thơ vào ngày 27/7/2009 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Nguyên tắc của hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tiến bộ, xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc; các thành viên trong gia đình có N vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Xét bà T trình bày, do chung sống nhưng cả hai đều không có tiếng nói chung, không quan tâm chăm sóc nhau, ông N không quan tâm đến cuộc sống của vợ con, bỏ mặt vợ con. Ông N đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, triệu tập xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy ông không còn thiết tha gì đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T. Qua đó thể hiện, mâu thuẫn gia đình ông bà thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nay bà T yêu cầu xin ly hôn với ông N là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về con chung: có 03 con chung là Phan Minh N, sinh ngày 17/11/2010 (nam); Phan Gia Bảo, sinh ngày 01/12/2012 (nam); Phan Ngọc Kim, sinh ngày 25/01/2008 (nữ). Cháu Phan Minh N và cháu Phan Gia Bảo có nguyện vọng được theo sống với mẹ, nên giao cháu N và cháu Bảo cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Còn cháu Kim hiện tại cũng đang sống với bà, bà T cũng yêu cầu được tiếp tục nuôi các cháu đến trưởng thành, không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bà T nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T xác định không có nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm T.

    Bà Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với ông Phan Lương N.

  2. Về con chung: Giao các cháu Phan Minh N, sinh ngày 17/11/2010 (nam); Phan Gia Bảo, sinh ngày 01/12/2012 (nam); Phan Ngọc Kim, sinh ngày 25/01/2008 (nữ) cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông N không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Dành quyền thăm nom con chung cho ông N theo quy định của pháp luật, không ai được quyền cản trở ông N thực hiện quyền này.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
  4. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0007476 ngày 31/01/2024 (bà T đã thực hiện xong).
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn được quyền kháng cáo; kể từ ngày bị đơn nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
  6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND H. Thới Lai;
  • - Chi cục THADS H. Thới Lai;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - UBND thị trấn Thới Lai;
  • - Lưu hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Tuấn Kiệt

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Văn Til

Nguyễn Hữu Khanh

Bùi Tuấn Kiệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/HNGĐ-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi dưỡng con chung

  • Số bản án: 48/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi dưỡng con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger