Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2024/DS-ST

Ngày 07-5-2024

V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Võ Quốc Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thắng

Ông Đinh Chí Hiển

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 320/2023/TLST – DS ngày 31 tháng 10 năm 2003 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXX - ST ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1983 (có mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm A, phường T, Thành Phố C, Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh N: Ông Mai Thiên T là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh C (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1966 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã B, T, Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Huỳnh Văn N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày:

Ngày 05/4/2022 giữa ông N và bà Bé S có ký kết hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất với nội dung bà S đồng ý chuyển nhượng cho ông N quyền sử dụng đất thuộc thửa số 0282, tờ bản đồ số 11, diện tích 28.030m², tọa lạc ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Giá chuyển nhượng 75.000.000 đồng/công (tầm 03m). Bà Bé S yêu cầu đặt cọc trước số tiền 300.000.000 đồng để bà B Sáu trả nợ Ngân hàng lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông N đúng theo quy định pháp luật.

Ông N đã đặt cọc cho bà Bé S số tiền 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Bà bé S hẹn ông N đến tháng 5/2022 sẽ làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông thì ông N sẽ trả đủ số tiền còn lại. Đến ngày hẹn ông liên hệ với bà Bé S để làm thủ tục chuyển nhượng thì bà B S hứa hẹn nhiều lần cho đến nay vẫn không làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N. Ông N tìm hiểu thông tin mới biết phần đất trên bà đã bị Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình kê biên bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ cho người khác, đồng thời phần đất trên bà S đã chuyển nhượng cho người khác.

Ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Bé S trả lại tiền cọc 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và tiền lãi theo quy định của pháp luật trong thời gian 01 năm từ ngày 05/4/2022 đến ngày 05/4/2023. Ông N không yêu cầu phạt cọc đối với bà Bé S.

Bà Nguyễn Thị Bé S trình bày:

Ngày 05/4/2022 anh Hồng Thái Thanh H có dẫn ông Huỳnh Văn N đến gặp bà Bé S để thỏa thuận chuyển nhượng đất, hai bên có làm hợp đồng đặt cọc mua bán đất (v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất). Theo đó, bà Bé S chuyển nhượng cho ông N phần đất tại thửa 0282, tờ bản đồ 11, diện tích 28.030m². Bên bà Bé S có nhận đặt cọc của ông N là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Chữ ký, chữ viết dưới mục đại diện bên A là của bà Bé S. Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T cho chuộc lại đất do phần đất chuyển nhượng bị kê biên bán đấu giá chưa chuộc được nên chưa làm thủ tục chuyển nhượng hoàn tất cho bên ông N. Khi bà Bé S chuyển nhượng đất cho ông N thì có giáp mặt với bà T1 (người mua trúng đấu giá), ông L (cán bộ cơ quan Thi hành án dân sự huyện T). Không có giáp mặt với ông K (đương sự vụ án tranh chấp đất giữa ông K với bà Bé S).

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N, bà Bé S không có khả năng thanh toán, bà Bé S đồng ý giao cho ông N 06 mét đất mặt tiền phần đất giáp với ông K.

Bà S xác định khi thỏa thuận chuyển nhượng đất thì ông N biết việc phần đất bị kê biên bán đấu giá nhưng Thi hành án dân sự huyện T cho bà S chuộc lại đất.

Tại phiên tòa hôm nay:

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 05/4/2022 giữa ông Huỳnh Văn N với bà Nguyễn Thị Bé S vô hiệu. Buộc bà Nguyễn Thị Bé S hoàn lại cho ông Huỳnh Văn N số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng và số tiền lãi là 30.000.000 đồng. Về án phí bà S phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc tranh chấp giữa các đương sự nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Bà S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự này.

Về nội dung tranh chấp:

[1] Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 05/4/2022 giữa ông N và bà Bé S có ký kết hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất với nội dung bà S đồng ý chuyển nhượng cho ông N quyền sử dụng đất thuộc thửa số 0282, tờ bản đồ số 11, diện tích 28.030m² tại ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau. Ông N giao cọc cho bà S số tiền 300.000.000 đồng, bà S đã nhận đủ tiền do ông N đặt cọc. Tuy nhiên, kể từ ngày đặt cọc đến nay bà S vẫn chưa chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận cho ông N.

[2] Tại biên bản làm việc ngày 08/3/2024 (BL53) bà S trình bày phần đất thuộc thửa số 0282, tờ bản đồ số 11, diện tích 28.030m², năm 2018 bà S đã lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Lê Hoàng K1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1983, địa chỉ: Ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau, hợp đồng có sự chứng kiến của ông K2 trưởng ấp. Giá chuyển nhượng là 1.127.000.000đ (một tỉ một trăm hai mươi bảy triệu đồng), ông K1 và bà M đã đưa đủ tiền cho bà Bé S.

Tại thời điểm này bà S đang thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại ngân hàng TMCP K3 để vay vốn nên bà S đã cùng với ông K1, bà M đến ngân hàng TMCP Kiên Long phòng giao dịch huyện K3 để chuộc lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 14947 do UBND huyện T cấp ngày 01/4/1996 tờ bản đồ số 11, thửa đất số 0282, diện tích 28.030m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1103 do UBND huyện T cấp ngày 23/4/2002 tờ bản đồ số 11, thửa đất số 169, diện tích 1550m² và thửa đất số 170, diện tích 5360m² và đưa hai giấy chứng nhận này cho ông K1, bà M quản lý.

Mặt khác, theo quyết định công nhận sự thỏa thuận số 35/2018/QĐST – DS ngày 24/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, bà Bé S và ông Huỳnh Văn S1 (chồng bà S) có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Nguyễn Đồng H1, sinh năm 1964, địa chỉ: Ấp T, xã V, P, tỉnh Bạc Liêu số tiền 40.000.000 đồng, do bà S không có khả năng trả nợ nên Chi cục Thi hành án huyện Thới Bình đã kê biên bán đấu giá và bà Nguyễn Thị T2, địa chỉ số E, đường A, khu dân cư T, phường E, thành phố B đã trúng đấu giá. Về phía ông K1 và bà M đã khởi kiện bà S, ông S1 ra Tòa yêu cầu công nhận hợp đồng đã lập ngày 20/7/2018. Lời trình bày của bà S phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Giấy bán đất lập ngày 20/7/2018 giữa ông Huỳnh Văn S1, bà Nguyễn Thị Bé S với ông Lê Hoàng K1, thông báo số 434/TB-CCTHADS ngày 26/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình

[3] Từ những cơ sở nói trên, xét thấy, bà S không thể chuyển nhượng được cho ông N phần đất thuộc thửa số 0282, tờ bản đồ số 11, diện tích 28.030m² tại ấp X, xã B, huyện T, tỉnh Cà Mau nên buộc bà S có nghĩa vụ trả lại cho ông N số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng.

[4] Xét yêu cầu tính lãi của ông N thấy rằng, do bà S không thực hiện đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận đối với ông N nên bà S phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền với mức lãi suất theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự (1/2 của 20%, cụ thể: 300.000.000 đồng x 10% = 30.000.000 đồng.

Kể từ ngày ông Huỳnh Văn N có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Bé S chậm trả cho ông N thì phải chịu lãi chậm trả trên số tiền đặt cọc theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông N không phải chịu án phí, ông N nộp tạm ứng phí được nhận lại. Bà S chịu án phí số tiền 16.500.000 đồng.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 328, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Bé S trả lại số tiền cọc. Buộc Nguyễn Thị Bé S trả lại cho ông Huỳnh Văn N số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và số tiền lãi 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ngày 30/10/2023 ông Huỳnh Văn N nộp tạm ứng án phí số tiền là 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0003974 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được được nhận lại. Bà Nguyễn Thị Bé S phải chịu số tiền 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng)

Kể từ ngày ông Huỳnh Văn N có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Bé S chậm trả cho ông N thì phải chịu lãi chậm trả trên số tiền đặt cọc theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ông N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án và kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ đối với đương sự vắng mặt.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án tỉnh Cà Mau;
  • - VKS huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Quốc Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 48/2024/DS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 48/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng Điều 328, khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn Nên về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Bé Sáu trả lại số tiền cọc. Buộc Nguyễn Thị Bé Sáu trả lại cho ông Huỳnh Văn Nên số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) và số tiền lãi 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Kể từ ngày ông Huỳnh Văn Nên có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn Thị Bé Sáu chậm trả cho ông Nên thì phải chịu lãi chậm trả trên số tiền đặt cọc theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật tố tụng dân sự. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ngày 30/10/2023 ông Huỳnh Văn Nên nộp tạm ứng án phí số tiền là 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng), theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số 0003974 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được được nhận lại. Bà Nguyễn Thị Bé Sáu phải chịu số tiền 16.500.000 đồng (mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger