|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 48/2024/HS-ST Ngày: 25-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phạm Văn Diệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Tuấn Kiệt
Ông Nguyễn Duy Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Tân- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tổ chức xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Họ tên: Hà Thúc V; Sinh ngày 09 tháng 8 năm 2000, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 26KC/4, T, phường P, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi tạm trú: ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Thúc T, sinh năm 1975 và Trần Kim T1, sinh năm 1982; Vợ Trương Thị Bạch T2, sinh năm 2000(chung sống như vợ chồng), có 01 người con tên Hà N, sinh ngày 18/01/2024; tiền án, tiền sự: không có.
Nhân thân:
Ngày 27/9/2017, bị Tòa án nhân dân Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 03 tháng tù tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 172/2017/HSST, chấp hành xong ngày 25/4/2019 tại Trại giam L1, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng ngày 30/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi chấp hành án, ở nhà phụ gia đình tại huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 18/01/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 64/QĐ-TA, thời gian 18 tháng. Đến tháng 8 năm 2022, chạy shipper tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An và Campuchia đến ngày phạm tội.
2
- Bị cáo bị tạm giữ ngày 06 tháng 3 năm 2024, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam ngày 15 tháng 3 năm 2024 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Thúc V: Ông Cao Quốc T3, Luật sư Công ty TNHH S1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 21 giờ ngày 05/3/2024, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M2, tỉnh Tây Ninh phát hiện Nguyễn Văn L đang điều khiển xe mô tô 02 bánh biển kiểm soát 70F8-9938 từ hướng Campuchia về Việt Nam có chở theo túi xách màu đen nên tiến hành kiểm tra, phát hiện bên trong có nhiều quần áo phụ nữ, 01 (một) túi nylon trong suốt có chứa 02 (hai) bịch nylon trong suốt, trong đó 01 (một) bịch chứa 102 (một trăm lẻ hai) viên nén màu xanh kí hiệu “RR” và 01 (một) bịch chứa chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là chất ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng để làm rõ. Nguyễn Văn L khai nhận túi xách trên là của một người đàn ông tên V thuê L vận chuyển từ Campuchia về Việt Nam (chưa thỏa thuận tiền công). Khi nhận túi xách Lường nghĩ là quần, áo phụ nữ nên không kiểm tra túi xách và không biết bên trong túi xách màu đen có chứa ma túy.
Qua truy xét nhanh và qua mô tả của L, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M2 phát hiện Hà Thúc V đang ngồi ở quán nước gần Quốc lộ B thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh chờ nhận túi xách từ L. Kiểm tra xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 63B-049.42 do Hà Thúc V điều khiển phát hiện bên trong nón bảo hiểm của V tại giỏ nhựa gắn dưới cổ xe mô tô nêu trên có 01 (một) bịch nylong trong suốt, bên trong có 01 (một) miếng khăn giấy màu trắng chứa 03 (ba) viên nén màu vàng nghi là chất ma túy. Hà Thúc V khai nhận 03 (ba) viên nén màu vàng là ma túy, V mua của một người quen qua mạng xã hội tại Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để sử dụng. Đối với túi xách màu đen Lường vận chuyển bị bắt giữ là của V được người đàn ông tên S (chưa xác định được nhân thân, lai lịch sống ở Campuchia) thuê V vận chuyển (chưa thỏa thuận tiền công), L không biết bên trong túi xách có ma túy.
Kết quả điều tra thể hiện: Khoảng đầu năm 2024, Hà Thúc V sang Campuchia làm nghề giao hàng tại Thành phố B, Campuchia. Tại đây, V có quen biết với người tên S và T4 (không rõ nhân thân, lai lịch). V, S và T4 thường gặp nhau ở Chợ đêm B, Campuchia để ăn uống và trao đổi, giới thiệu người vào làm ở Công ty G.
Vào khoảng chiều ngày 05/3/2024, Hà Thúc V đang ở nhà tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An chuẩn bị quần áo để sang Campuchia làm việc thì S gọi điện thoại qua T5 nhờ V mang giúp một túi xách quần áo từ Campuchia về Việt Nam. Do sợ không qua Campuchia kịp nên V đã gọi điện thoại cho Nguyễn Văn L (làm nghề chạy xe ôm ở khu vực cửa khẩu M2 mà Vũ quen trước đó) để thuê Lường qua Campuchia nhận túi xách quần áo mang về Việt Nam cho V, tiền công sẽ trả sau và L đồng ý.
Sau đó, V điều khiển xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 63B-049.42 lên Cửa khẩu Quốc tế M, tỉnh Tây Ninh. Trên đường đi, V gọi điện thoại qua T5 cho S để hỏi cách
3
nhận túi xách thì được S hướng dẫn qua Campuchia gặp T4 ở khu vực Casino K để nhận túi xách về Việt Nam và giao lại cho người chạy xe ô tô màu trắng tại khu vực ngã tư Hữu Nghị thuộc xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. S hứa sẽ trả tiền công cho V nhưng không nói rõ số tiền bao nhiêu. Khi L qua Campuchia thì điện thoại cho V để hỏi việc nhận túi xách, V điện thoại qua T5 cho T4 để T4 gặp và giao túi xách cho L. Sau khi nhận túi xách, L không kiểm tra đồ trong túi xách mà điện thoại thông báo cho V biết, V kêu Lường mang túi xách về Việt Nam. Sau đó, T4 điện thoại cho V thông báo đã đưa túi xách cho L và cho biết trong túi xách có bỏ ma túy nhưng không biết số lượng bao nhiêu. V điều khiển xe mô tô biển số 63B6-049.42 đến khu vực ngã tư Hữu Nghị gần Cửa khẩu M chờ L nhận túi xách có chứa ma túy. Tại đây, V gặp một người đàn ông (khoảng 40 tuổi, không rõ họ tên và địa chỉ) đi xe ô tô 4 chỗ, màu trắng (không nhớ rõ biển kiểm soát), người đàn ông này cho biết là người đến nhận túi xách, V gọi điện thoại cho L để nhận túi xách nhưng không liên lạc được nên cả hai đi nhậu ở quán cách ngã tư có đèn tín hiệu giao thông tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế M2 khoảng 02 km. Khi nhậu xong, V chạy xe đến khu vực gần vòng xoay G ngủ.
Đến khoảng 21 giờ ngày 05/03/2024, khi L đang điều khiển xe mô tô, biển kiểm soát 70F8-9938 từ Campuchia về Việt Nam, đến đường tuần tra biên giới khu vực cột mốc 170/3 thuộc ấp T, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M2 phối hợp với các lực lượng chức năng có liên quan kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Sáng ngày 06/3/2024, V chạy xe lên nhà của L để nhận túi xách nhưng không có L ở nhà. V chạy xe đến quán cà phê gần nhà L để đợi thì bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M2 mời về làm việc. Qua kiểm tra đã thu giữ 03 (ba) viên nén màu vàng V cất giấu trong nón bảo hiểm nghi là chất ma túy. V khai nhận 03 (ba) viên nén trên là ma túy do V mua ngày 03/3/2024 của một người không rõ họ tên để sử dụng.
Kết luận giám định số 458/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1.1) bên trong 01 (một) bịch nylon trong suốt gửi đến giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 37,4163 gam (ba bảy phẩy bốn một sáu ba gam); Mẫu 102 (một trăm lẻ hai) viên nén màu xanh có ký hiệu “RR” (kí hiệu M1.2) bên trong 01 (một) bịch nylon trong suốt gửi đến giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng 38,9752 gam (ba mươi tám phẩy chín bảy năm hai gam); M có 03 (ba) viên nén màu vàng có hình hoa văn bên trong có 01 (một) miếng khăn giấy màu trắng (kí hiệu M2) bên trong 01 (một) bịch nylon trong suốt gửi đến giám định là chất ma túy, loại MDMA, khối lượng 1,3975 gam (một phẩy ba chín bảy năm gam).
Kết luận giám định số 461/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trên 01 (một) túi nylong trong suốt, bên trong túi nylon trong suốt có 02 (hai) bịch nylon trong suốt gồm: 01 (một) bịch nylon trong suốt chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) bịch nylon trong suốt chứa 102 (một trăm lẻ hai) viên nén màu xanh có ký hiệu “RR” nghi ma túy và 01 (một) bịch nylon trong suốt, bên trong bịch nylon có 01 (một) miếng khăn giấy màu trắng không phát hiện dấu vết đường vân.
4
Qua xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 07/3/2024, kết quả thể hiện Hà Thúc V dương tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra, Hà Thúc V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.
Ngoài ra, qua kiểm tra các tin nhắn giữa V và tài khoản mạng xã hội T5 tên S (Cánh A...) có nội dung trao đổi việc mua bán ma túy. V trình bày tài khoản trên là người quen biết ngoài xã hội ở Campuchia, không phải là người tên S thuê V mang túi xách về Việt Nam, số điện thoại của tài khoản “S (Cánh A...) là mạng điện thoại di động ở Campuchia. V khai nhận S nhờ V hỏi mua ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy. Qua điều tra, không xác định được người mua và người bán ma túy do V khai không rõ về tên tuổi, địa chỉ cụ thể.
Tại Cáo trạng số 13/CT-VKS-P3, ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Hà Thúc V về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy tại điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 250; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 16 năm đến 18 năm về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 02 năm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt chung cho bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội; tịch thu sung quỹ 01 điện thoại đi động hiệu Iphone X; 01 xe mô tô biển kiểm soát 63B-049.42 cùng giấy đăng ký xe mang tên Hà Tuấn A; tuyên trả cho ông L 01 điện thoại di động hiệu Nokia; trả cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu OPO F7; 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO Y21S.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với Viện kiểm sát về tội danh, những tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo hiện có con nhỏ; là lao động chính nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo không tham gia tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết việc làm sai trái của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để sớm trở về với gia đình chăm sóc vợ con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình
5
điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hà Thúc V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cụ thể: Vào khoảng chiều ngày 05/3/2024, Hà Thúc V đang ở nhà tại ấp R, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An chuẩn bị quần áo để sang Campuchia làm việc thì S gọi điện thoại qua T5 nhờ V mang giúp một túi xách quần áo từ Campuchia về Việt Nam. Do sợ không qua Campuchia kịp nên V đã gọi điện thoại cho Nguyễn Văn L (làm nghề chạy xe ôm ở khu vực cửa khẩu M2 mà Vũ quen trước đó) để thuê Lường qua Campuchia nhận túi xách quần áo mang về Việt Nam cho V, tiền công sẽ trả sau và L đồng ý.
Sau đó, V điều khiển xe mô tô hai bánh biển kiểm soát 63B-049.42 lên Cửa khẩu Quốc tế M, tỉnh Tây Ninh. Trên đường đi, V gọi điện thoại qua T5 cho S để hỏi cách nhận túi xách thì được S hướng dẫn qua Campuchia gặp T4 ở khu vực Casino K để nhận túi xách về Việt Nam và giao lại cho người chạy xe ô tô màu trắng tại khu vực ngã tư Hữu Nghị thuộc xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. S hứa sẽ trả tiền công cho V nhưng không nói rõ số tiền bao nhiêu. Khi L qua Campuchia thì điện thoại cho V để hỏi việc nhận túi xách, V điện thoại qua T5 cho T4 để T4 gặp và giao túi xách cho L. Sau khi nhận túi xách, L không kiểm tra đồ trong túi xách mà điện thoại thông báo cho V biết, V kêu Lường mang túi xách về Việt Nam. Sau đó, T4 điện thoại cho V thông báo đã đưa túi xách cho L và cho biết trong túi xách có bỏ ma túy nhưng không biết số lượng bao nhiêu. V điều khiển xe mô tô biển số 63B6-049.42 đến khu vực ngã tư Hữu Nghị gần Cửa khẩu M chờ L nhận túi xách có chứa ma túy. Tại đây, V gặp một người đàn ông (khoảng 40 tuổi, không rõ họ tên và địa chỉ) đi xe ô tô 4 chỗ, màu trắng (không nhớ rõ biển kiểm soát), người đàn ông này cho biết là người đến nhận túi xách, V gọi điện thoại cho L để nhận túi xách nhưng không liên lạc được nên cả hai đi nhậu ở quán cách ngã tư có đèn tín hiệu giao thông tại khu vực Cửa khẩu Quốc tế M2 khoảng 02 km. Khi nhậu xong, V chạy xe đến khu vực gần vòng xoay G ngủ.
Sáng ngày 06/3/2024, V chạy xe lên nhà của L để nhận túi xách nhưng không có L ở nhà. V chạy xe đến quán cà phê gần nhà L để đợi thì bị Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế M2 mời về làm việc. Qua kiểm tra đã thu giữ 03 (ba) viên nén màu vàng V cất giấu trong nón bảo hiểm nghi là chất ma túy. V khai nhận 03 (ba) viên nén trên là ma túy do V mua ngày 03/3/2024 của một người không rõ họ tên để sử dụng.
Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Hà Thúc V phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy tại điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
6
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, nhận thức rõ ma túy là chất độc có hại cho sức khoẻ của con người, khi sử dụng sẽ bị lệ thuộc và nó tàn phá cơ thể con người, là nguyên nhân gây ra các căn bệnh xã hội. Nên cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm trong xã hội.
[4] Khi quyết định hình phạt có xem xét:
+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Người bào chữa đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo tại khoản 2 Điều 51 BLHS, với lý hoàn cảnh của bị cáo là lao động chính, có con nhỏ là không có căn cứ, tuy nhiên Hội đồng xét xử sẽ xem xét trong quá trình nghị án.
+ Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung vì bị cáo không có tài sản.
[6] Về xử lý vật chứng:
- - 01 (một) túi nylong chứa chất tinh thể rắn màu trắng ký hiệu (M1.1) là chất ma túy loại Ketamine, có khối lượng 36,9380 gam và 01 (Một) bịch nylong chứa chât viên nén màu xanh ký hiệu “RR" (M1.2) là chất ma túy loại MDMA có khối lượng 37,8080 gam, tất cả được niêm phong vào 01 (một) phong bì ghi số 458, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thị Tuyết M1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận giám định số 458/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T).
- - 01 (một) túi nylong trong suốt, bên trong có 02 (hai) bịch nylong trong suốt; 01 (một) bịch nylong trong suốt; 01 (một) miếng khăn giấy màu trắng tất cả được niêm phong vào 01 (một) phong bì đúng theo quy định, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thanh T6 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận giám định số 461/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T).
- - 01 (Một) túi xách màu đen hiệu “LAHADA”, bên trong có: 01 (một) bịch băng vệ sinh hiệu Kotex (có 03 miếng); 01 (một) bộ quần áo dài tay màu xanh của nữ; 01 (một) bộ áo ngủ dài màu xám của nữ có hình con hạc; 01 (một) áo màu đen có hiệu walbusch của nữ; 01 (một) áo dài tay màu đen của nữ; 01 (một) quần sọt Jean màu xanh của nữ; 01 (một) bộ áo, quần sọt màu đỏ của nữ; 01 (một) áo ngủ ngắn màu xám của nữ; 01 (một) áo không có tay màu trắng của nữ; 01 (một) bộ quần, áo thun màu đen của nữ; 01 (một) áo thun màu trắng có chữ LEVTS; 01 (một) cái đầm màu nâu của nữ; 01 (một) cái đầm màu đen của nữ; 03 (ba) cái quân lót màu đen của nữ; 01 (một) áo lót màu đen của nữ.
- - 01 (một) nón bảo hiểm (đã qua sử dụng), bị cáo không có yêu cầu nhận lại.
7
Là những vật chứng kèm theo vụ án có liên quan đến hành vi phạm tội, và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; số Seri: 359306041241389 được niêm phong vào một phong bì đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn L, Điều tra viên Nguyễn Tiến D, Phạm Thị Hồng T7 thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; ông Trần Minh T8 – Kiểm sát viên thuộc Kiểm sát nhân dân tỉnh T và bà Phan Thị P, là người chứng kiến, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T. Không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho ông L.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen; IMEI: 354851092235850; MEID: 35485109223585 (đã qua sử dụng). Bị cáo dùng liên lạc với các đối tượng trong khi thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung quỹ.
- - 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO F7 màu xanh; IMEI1: 868822038577910; IME12: 868822038577902 (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu VIVO Y21S màu xanh; IMEI1: 861128055611138; IMEI2: 861128055611120 (đã qua sử dụng) được niêm phong vào 01 (một) phong bì đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của bị can Hà Thúc V, Điều tra viên Nguyễn Tiến D, Phạm Thị Hồng T7 thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; ông Trần Minh T8 – Kiểm sát viên thuộc Kiểm sát nhân dân tỉnh T và ông Phan Việt H, là người chứng kiến, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T. 02 điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
- - 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter; Màu sơn: đen; biển kiểm soát 63B6-049.42; số khung RLCE55P10BY052419; số máy 55P1052411 (đã qua sử dụng. Theo Phiếu trả lời xác minh xe của Phòng CSGT, Công an tỉnh T ngày 19/3/2024 xe mô tô biển số 63B6-049.42, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Trắng Bạc Đen, số máy 55P1052411, số khung RLCE55P10BY052419, dung tích xi lanh 108cm³, năm sản xuất: 2012). Là phương tiện bị cáo dùng trong quá trình thực hiện hành phạm tội và dùng để tàng trữ trái phép chất ma túy, nên cần tịch thu sung quỹ.
- - 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha; số loại: Exciter; biển kiểm soát 63B6-049.42 mang tên Hà Tuấn A (đã được giám định theo Kết luận giám định số 863/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng Kĩ thuật hình sự-Công an tỉnh T), cần tịch thu kèm theo xe để sung quỹ.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Không chấp nhận đề nghị của người bào chữa của bị cáo.
[7] Về án phí: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; do bị kết án, nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
8
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hà Thúc V phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hà Thúc V 16 (mười sáu) năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Hà Thúc V 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo Hà Thúc V phải chấp hành là 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù, được tính từ ngày 06-3-2024.
- Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 250 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) túi nylong chứa chất tinh thể rắn màu trắng ký hiệu (M1.1) là chất ma túy loại Ketamine, có khối lượng 36,9380 gam và 01 (Một) bịch nylong chứa chât viên nén màu xanh ký hiệu “RR" (M1.2) là chất ma túy loại MDMA có khối lượng 37,8080 gam, tất cả được niêm phong vào 01 (một) phong bì ghi số 458, có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thị Tuyết M1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận giám định số 458/KL-KTHS ngày 08/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T).
- - 01 (một) túi nylong trong suốt, bên trong có 02 (hai) bịch nylong trong suốt; 01 (một) bịch nylong trong suốt; 01 (một) miếng khăn giấy màu trắng tất cả được niêm phong vào 01 (một) phong bì đúng theo quy định, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thanh T6 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T (kèm theo Kết luận giám định số 461/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T).
- - 01 (Một) túi xách màu đen hiệu “LAHADA”, bên trong có: 01 (một) bịch băng vệ sinh hiệu Kotex (có 03 miếng); 01 (một) bộ quần áo dài tay màu xanh của nữ; 01 (một) bộ áo ngủ dài màu xám của nữ có hình con hạc; 01 (một) áo màu đen có hiệu walbusch của nữ; 01 (một) áo dài tay màu đen của nữ; 01 (một) quần sọt Jean màu xanh của nữ; 01 (một) bộ áo, quần sọt màu đỏ của nữ; 01 (một) áo ngủ ngắn màu xám của nữ; 01 (một) áo không có tay màu trắng của nữ; 01 (một) bộ quần, áo thun màu đen của nữ; 01 (một) áo thun màu trắng có chữ LEVTS; 01 (một) cái đầm màu nâu của nữ; 01 (một) cái đầm màu đen của nữ; 03 (ba) cái quân lót màu đen của nữ; 01 (một) áo lót màu đen của nữ.
- - 01 (một) nón bảo hiểm (đã qua sử dụng).
- Tịch thu sung quỹ:
- Tịch thu tiêu hủy:
9
-
-
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu đen; IMEI: 354851092235850; MEID: 35485109223585 (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Exciter; Màu sơn: đen; biển kiểm soát 63B6-049.42; số khung RLCE55P10BY052419; số máy 55P1052411 (đã qua sử dụng. Theo Phiếu trả lời xác minh xe của Phòng CSGT, Công an tỉnh T ngày 19/3/2024 xe mô tô biển số 63B6-049.42, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm3, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Trắng Bạc Đen, số máy 55P1052411, số khung RLCE55P10BY052419, dung tích xi lanh 108cm³, năm sản xuất: 2012 kèm theo 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha; số loại: Exciter; biển kiểm soát 63B6-049.42 mang tên Hà Tuấn A (đã được giám định theo Kết luận giám định số 863/KL-KTHS ngày 09/5/2024 của Phòng Kĩ thuật hình sự - Công an tỉnh T), cần tịch thu kèm theo xe để sung quỹ.
- T9 trả cho ông Nguyễn Văn L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen; số Seri: 359306041241389 được niêm phong vào một phong bì đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Văn L, Điều tra viên Nguyễn Tiến D, Phạm Thị Hồng T7 thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; ông Trần Minh T8 – Kiểm sát viên thuộc Kiểm sát nhân dân tỉnh T và bà Phan Thị P, là người chứng kiến, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T.
- T9 trả cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO F7 màu xanh; IMEI1: 868822038577910; IME12: 868822038577902 (đã qua sử dụng); 01 (Một) điện thoại di động hiệu VIVO Y21S màu xanh; IMEI1: 861128055611138; IMEI2: 861128055611120 (đã qua sử dụng) được niêm phong vào 01 (một) phong bì đúng quy định, bên ngoài có chữ ký của bị can Hà Thúc V, Điều tra viên Nguyễn Tiến D, Phạm Thị Hồng T7 thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh; ông Trần Minh T8 – Kiểm sát viên thuộc Kiểm sát nhân dân tỉnh T và ông Phan Việt H, là người chứng kiến, có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T.
-
- Về án phí: Buộc bị cáo Hà Thúc V phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Văn Diệp |
10
- - Lưu hồ sơ;
- - Lưu tập án HSST.
11
Bản án số 48/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về vận chuyển trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 48/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
